Chủ Nhật, 24 tháng 6, 2007

Giải Phẫu Thẩm Mỹ và Văn Hóa


BS. HỒ ĐẮC DUY

Trong xã hội ngày nay (và có thể cả trong thời tiền sử), hầu như mỗi chúng ta, ít nhiều đều không hài lòng với hình thức của mình. Người thì thấy tai mình vểnh quá, người lại lo lắng đến cái mũi quá dài hay quá thấp…

Lịch sử của thân thể là cả một quá trình phấn đấu để vượt qua chính mình. Ngay từ xa xưa, con người đã không ngừng nỗ lực đấu tranh để xóa bỏ những hạn chế của thân thể thông qua chính trị, nghệ thuật, tôn giáo,… Giải phẫu thẩm mỹ có thể xem là một món quà huyền diệu của khoa học. Nhưng cần phải đặt nó trong lý tưởng thẩm mỹ và bối cảnh văn hóa cụ thể của một dân tộc, hơn là sản phẩm lai căng thể hiện sự đầu hàng trước một nền văn hóa ngoại lai.

Giải phẫu thẩm mỹ, một dịch vụ “liên tục phát triển”

Theo những số liệu thống kê vài năm gần đây cho thấy, chỉ riêng tại Mỹ, vào năm 1981 đã có 296.000 trường hợp giải phẫu thẩm mỹ; Năm 1984, con số này tăng lên 477.700; 10 năm sau (1994) là 1,3 triệu. Năm 1995, có hơn 825.000 ca giải phẫu sửa mặt. Năm 1996, cứ trung bình 150 người thì có một người tìm đến giải phẫu thẩm mỹ. Những khách hàng giải phẫu cũng ngày càng trẻ hơn. Phụ nữ châu Á ở Mỹ thường sửa mắt từ một mí thành hai mí. Ở Brazil, nhiều gia đình giàu có thường khuyến khích con gái giải phẫu ngực (làm cho nhỏ hơn) để phân biệt với những thiếu nữ thuộc thành phần nghèo khó trong xã hội.

Tuy nhiên, các nhà tâm lý nhìn nhận hiện tượng này khác hơn. Qua nhiều nghiên cứu và dẫn chứng về việc áp dụng phẫu thuật thẩm mỹ để thay đổi những đặc tính liên quan đến chủng tộc, các nhà tâm lý học giải thích giải phẫu thẩm mỹ sở dĩ phát triển là do lòng khát khao chinh phục các nhược điểm về hình thể của con người, bắt nguồn từ sự thống trị của một lý tưởng thẩm mỹ đang thịnh hành trong một sắc dân, thành phần kinh tế hoặc quyền lực nào đó. Điều này giải thích tại sao nhiều phụ nữ Á đông sống trong xã hội phương Tây có khuynh hướng nhuộm tóc vàng, để tự đồng hóa với lý tưởng về cái đẹp của phụ nữ bản xứ.

Vài nét về lịch sử phát triển của ngành giải phẫu thẩm mỹ

Qua nghiên cứu các sách giáo khoa về giải phẫu, tiểu thuyết, tác phẩm điêu khắc và các trang web trên mạng internet hiện thời, chúng ta có thể khái quát lịch sử của ngành giải phẫu thẩm mỹ. Ngay từ thế kỷ thứ 16, một số nhà giải phẫu đã cố gắng hồi phục lại mũi của những bệnh nhân bị biến dạng do bệnh giang mai. Thời đó chưa có thuốc khử trùng và gây mê, nên phẫu thuật này rất nguy hiểm và cực kỳ đau đớn. Nhưng với xã hội lúc này, một người có khuôn mặt với mũi bị đục khoét do bệnh giang mai là thuộc thành phần xấu (cho dù nạn nhân chỉ bị bệnh vì di truyền), nên nhiều người không ngần ngại chịu đau và đối đầu với hiểm nguy để được giải phẫu. Những cuộc giải phẫu đầu tiên này đã đặt ra vấn đề phân biệt giữa giải phẫu thẩm mỹ (aesthetic surgery) và giải phẫu tái thiết (reconstructive surgery).

Nhưng giải phẫu thẩm mỹ chỉ thực sự bắt đầu phát triển từ thế kỷ 19, với sự ra đời của thuốc khử trùng và kỹ thuật gây mê, và quan trọng hơn hết là sự ra đời của lý thuyết khoa học về chủng tộc. Trong một thời gian dài, các nhà cơ thể học châu Âu từng bị mê hoặc với thân thể của những phụ nữ da đen ở châu Phi. Theo đà bành trướng của thực dân châu Âu, các nhà cơ thể học Pháp và Anh bắt đầu so sánh cơ thể của phụ nữ da đen với cơ thể của những phụ nữ mà họ xem là “bình thường” (tức phụ nữ châu Âu).

Tình trạng chủng tộc hóa của khoa học trong thế kỷ 19 qui định giá trị văn hóa cho mỗi bộ phận của cơ thể - mông, tai, ngực - nhưng đặc biệt là mũi. Chẳng hạn người Ái Nhĩ Lan có mũi quá nhỏ, mũi người Do Thái quá to, mũi người châu Phi quá thấp nên không nằm trong tiêu chuẩn “cái mũi lý tưởng” của người châu Âu. Quan điểm nhân chủng học này đã kéo dài mãi cho đến thế kỷ 20.

Nếu giả thuyết về sự vượt lên và hòa nhập vào một nền văn hóa thống trị là đúng, thì có thể đoán được phần lớn những khách hàng giải phẩu thẩm mỹ phải là người châu Á hay châu Phi. Nhưng trong thực tế, chính những người da trắng thuộc giai cấp trung hay thượng lưu lại là những khách hàng chủ yếu thúc đẩy ngành giải phẫu thẩm mỹ phát triển.

Trong chiến tranh thế giới thứ hai, Hitler và Mussolini từng ra lệnh giải phẫu thẩm mỹ cho binh lính để nâng cao sức khỏe, kể cả sửa mí mắt.

Sự kết hợp du lịch với giải phẫu cũng dần dần trở thành một kỹ nghệ. Ngày nay, người ta đã có thể du lịch sang Ba Lan để sửa mặt, hay sang Li-băng để giải phẫu thay đổi giới tính!..

Giải phẫu thẩm mỹ luôn luôn đi kèm với nguy cơ rủi ro, ngay cả trong thời đại y học tiên tiến hiện nay, đồng thời làm tốn rất nhiều thời gian cho cả bệnh nhân và bác sĩ.

Một nghệ sĩ nổi tiếng người Pháp, Orlan, đã từng giải phẫu ít nhất 10 lần kể từ năm 1987. Bà còn làm phim để mô tả những ca giải phẫu của chính mình, để theo đuổi cái lý tưởng mà bà gọi là “Sự tái sinh của Thánh Orlan”. Orlan có quan điểm hết sức cực đoan và luôn ao ước có được một cơ thể hoàn hảo theo lý tưởng của cái đẹp Tây phương, với cái cằm của thần vệ nữ Venus, đôi mắt của Fountainbleu Diana, môi của Europa, mũi của Psyche và lông mày của Mona Lisa.

Với xu hướng khách hàng giải phẫu ngày càng trẻ, chắc chắn giải phẫu thẩm mỹ sẽ còn kéo dài và phát triển mạnh hơn trong tương lai. Và với cái giá khá đắt của giải phẫu thẩm mỹ, cơ thể con người dần dần không còn là một món quà huyền nhiệm của tạo hóa, mà trở thành “một công trình, một dự án” đầy thử thách.

Những dấu vết, những biểu hiện về hình dáng bên ngoài cơ thể có thể là một yếu tố làm người ta không hạnh phúc, và nhiều khi trở thành rào cản trong những mối quan hệ xã hội hàng ngày. Do đó, giải phẫu thẩm mỹ được xem như một cách thức chăm sóc nhu cầu cơ thể con người. Và thực tế hiện nay, đường ranh phân biệt giữa giải phẫu thẩm mỹ và giải phẫu tái thiết ngày càng khó nhận ra, đặc biệt là khi các nhà giải phẫu đã mô tả công việc của họ như là việc “chữa trị” tâm thần cho bệnh nhân thông qua sự điều chỉnh cơ thể.

Không có nhận xét nào: