Hiển thị các bài đăng có nhãn Tạp ghi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tạp ghi. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 16 tháng 7, 2007

Thơ Nhạc Hoài Niệm của Những Người Ly Xứ

Có những địa danh, khi nhắc đến, làm tim óc bồn chồn và hoang mang nhắc lại một thời gian không gian nào đó đã khuất nhưng còn âm hưởng. Hà Nội trong thơ Hoàng Anh Tuấn, trong nhạc Hoàng Dương; Sài Gòn trong thơ Nguyên Sa, trong nhạc Nguyễn Đình Toàn. Hà Nội trong tùy bút Mai Thảo, hay hồi ức Vũ Bằng; Sài Gòn trong truyện ngắn Tạ Tỵ, hay tùy bút Võ Phiến.

Những người ly xứ tha hương, khi thời tiết thay đổi, nghe như trong hồn âm vang những ngọn sóng, của một ngày động biển. Người Việt Nam, trong cuộc sống đã sẵn những buổi ra đi. Từ năm di cư đến ngày di tản, biết bao nhiêu tâm hồn mang nặng những nỗi niềm của cả một thời thế dông bão. Thơ, văn, nhạc, chuyên chở tâm sự thời đại. Những câu văn, những lời thơ, những ý nhạc phản ảnh những cuộc sống cực kỳ đặc biệt của một dân tộc đã quá quen với chiến tranh, khói lửa và tang tóc...

Sài Gòn, sau năm 1975. Hà Nội, sau năm 1954. Những thành phố của hoài niệm trong thời gian ấy. Năm 1954, hàng triệu người rời bỏ miền Bắc xuôi nam tìm tự do, cuộc di cư vĩ đại của những người ghê sợ Cộng sản. Năm 1975, Cộng sản chiếm toàn bộ đất nước. Hàng trăm ngàn người di tản ra ngoại quốc sau đó đến từng đợt vượt biển của hàng triệu người. Không gian, thời gian, của những biến cố kể trên, đã thành môi trường và động lực thúc đẩy văn nghệ sĩ để tạo thành những tác phẩm văn chương hay âm nhạc phản ảnh tâm tình thời đại. Một dòng nhạc hoài niệm kéo dài suốt nửa thế kỷ đã cho chúng ta những bản nhạc để đời. Những bản nhạc mà tuổi thọ của nó dài hơn tuổi thọ của chính tác giả sáng tạo ra nó. Nhạc sĩ có khi khuất bóng từ lâu, nhưng nhạc phẩm vẫn còn sống, còn được hát và còn được thính giả nghe và hâm mộ. Qua một thời gian, qua sự đãi lọc, bản nhạc có thể tồn tại được phải có sức lôi cuốn từ ngôn từ và điệu nhạc. Và nhất là, phù hợp với tâm tư của từng thời kỳ, của hoàn cảnh mỗi người khi nghe âm điệu ấy.

Với tôi, có những bản nhạc là một phần đời sống tôi. Những bản nhạc, nhắc lại một tháng ngày đã qua. Nghe nó, như sống lại một quá khứ. Thuở đó, là kỷ niệm. Thuở đó, là cái tôi riêng trải dài theo những đoạn đời. Có khi, tưởng quên lãng nhưng lại chợt về trong ký ức. Có người bạn, anh Trần Thăng, một người sản xuất nhiều băng nhạc và video nổi tiếng mang tên trung tâm Asia, Dạ Lan, Mây, đã chê tôi là “ông chỉ thích những bản “ antique” không mà chẳng để ý gì đến những bản nhạc mới sáng tác, mọi người đều như thế thì âm nhạc sao phát triển được “. Tôi chỉ cười nhưng thầm nghĩ, ừ, tôi chỉ thích những gì hợp với tôi bất kể là nhạc thính phòng hay nhạc đại chúng, nhạc cũ hay nhạc mới nhạc trẻ. Tôi có những băng nhạc thật cũ, âm thanh nghe nhiều quá thành rè rè mà tôi vẫn giữ lại. Và, nếu có ai có những bản nhạc cũ mà tôi thích ấy, tôi thu lại để nghe. Tính khí ấy có lẽ cũng không hay lắm, nhưng đã quen nết rồi, biết làm sao. Nhiều khi, tôi nghe nhạc trong vô thức, lúc đọc sách, lúc lái xe hay cả những lúc đang chập chờn giấc ngủ. Cái cung cách nghe nhạc mà như không nghe nhạc ấy có lẽ không phải là của một người thành thạo về âm nhạc. Nhưng đó cũng là một phần đời sống của tôi, dù chỉ là một phút một giây.Tôi sống một phút. Cũng như tôi cảm âm nhạc một giây, mặc dù bằng hai lỗ tai “ điếc nhạc”…

Năm 1954, gia đình tôi di cư vào Nam. Đang học tiểu học, lạ người lạ cảnh, tâm tư như tờ giấy trắng, nhưng tôi vẫn nhớ như in bài hát mà tôi đã gân cổ hát trong giờ sinh hoạt học đường. Lúc ấy, hào hứng tin tưởng xiết bao. Bản nhạc “Về miền Nam“ của Trọng Khương nhắc lại tôi ngày thơ ấu:

“Đứng vùng lên nào bao thanh niên yêu nước
Hướng về đây miền nam thân yêu nắng sáng
Theo vết chân người xưa ta tiến lên đường đi
Bao nắng mưa sương gió nào ngại chi.
Sông nào cắt đứt đôi nơi
Sông nào xé nát tim tôi
Sông nào bóp chết thương yêu Việt Nam ơi!… “

Bài hát ấy, với tôi, tự nhiên nhắc và nhớ đến những khuôn mặt ấu thơ. Những cô giáo, thầy giáo khai tâm tuổi nhỏ. Cùng với ngôn từ và điệu nhạc, là bước chân trở về. Đó, lãnh địa thiêng liêng của đời người, mà dần dần thời gian đi qua, in sâu trên tiềm thức. Đất nước mới, mở ra những lạc quan, như tuổi xanh ngây thơ nhưng thật nhiều ước vọng... Bài hát như một dây chuyền để bắt đầu cho một chuỗi liên tưởng. Vô tình, bài hát như một contact để mở một mạch điện cho khúc phim đời sống riêng tôi.

Nhưng những bài hát khác, thường là những nỗi buồn, ngâm ngùi hướng vọng về chốn quê xa. Hàng trăm ca khúc có chung dòng nhạc. Không phải chỉ với bài hát ấy, mà còn nhiều bài hát khác, nhiều phim truyện khác, nhắc nhớ lại thời kỳ đặc biệt của đất nước. Một cách khái quát, theo bài thuyết trình “ Love and Longing at the Border : Songs On Both Sides of the 17th Parallel” của Jason Gibbs trong seminar của Popular Culture Association tại thành phố San Antonio, tiểu bang Texas thì có tới 18 ca khúc của những người di cư nhớ về quê hương cũ đã xa. Như: Bắc Một Nhịp cầu“ của Hoàng Trọng, lời Hồ Đình Phương, “Biệt Hải Phòng”, của Phó Quốc Thăng, “Chờ Anh Em Nhé”, của Xuân Tiên, lời Nhật Bằng, “Chuyến Đò Vĩ Tuyến“ của Lam Phương, “Giấc Mơ Hồi Hương” của Vũ Thành, “Hận Ly Hương“ của Anh Hoa và Ngọc Lang, “Hướng Về Đất Bắc“ của Phó Quốc Thăng, “Hướng Về Hà Nội“ của Hoàng Dương, “Lá Thư Gửi Mẹ” của Nguyễn Hiền, lời Thái Thảo, “Mộng Ngày Hồi Hương”, của Hoàng Trọng, Hồ Đình Phương, “Sầu Ly Hương” của Lam Phương, “Thu Ly Hương” của Nhật Bằng và Đan Thọ, “Tình Cố Đô” của Lam Phương lời Mạnh Thương, “Về Bến Xưa“ của Nguyễn Hiền, lời Thiện Huấn, “Vọng Cố Đô” của Đan Thọ Nhật Bằng, “Xa Quê Hương” của Đan Tho, Xuân Tiên, “Xuân ly Hương” của Phó Quốc Lân.. Nhưng danh sách ấy chưa đầy đủ lắm, còn thiếu một cách đáng kể: “Mưa Sài Gòn, Mưa Hà Nội” của Phạm Đình Chương, thơ Hoàng Anh Tuấn, “Mùa Hoa Nở“ của Cung Tiến,…

Trong những bài hát ấy, Hà Nội như một hình tượng của nhung nhớ. Thành phố ấy, phải rời bỏ đi xa với nỗi đau đớn tận cùng. Hà Nội ơi! Có phải là tiếng kêu thảng thốt của trái tim vỡ vụn. Không phải với tôi mà chung của rất nhiều người, Hà Nội thành thánh địa của hồi tưởng. Lúc học trung học, hai thành phố gợi cho tôi nhiều ấn tượng và mê đắm nhất là Paris và Hà Nội. Lúc đó, tôi chỉ mong có ngày đặt chân đến. Paris của cậu bé Vincent trong sách “ Cours De Langues et de Civilisations “ của giáo sư Mauger mở ra biết bao nhiêu ảnh tượng kỳ thú. Còn Hà Nội, là “Đêm Giã Từ Hà Nội“ của Mai Thảo, là “Ung thư” của Thanh Tâm Tuyền, hay nhạc “Hướng Về Hà Nội“ của Hoàng Dương:

“Hà Nội ơi! Những ngày vui đã ra đi
Biết người còn nhớ nhung chi,
Hết rồi giây phút phân ly
Hà Nội ơi, dáng huyền tha thướt đê mê
Tóc thề thả gió lê thê
Biết đâu ngày ấy em về...“

Không gian xa cách ngàn trùng. Thời gian chia ly vời vợi. Đời sống bỗng lênh đênh chia hai giữa buồn nhớ và hy vọng. Sẽ có một ngày trở về, có phải?. Nhưng cuộc sống như dòng nước trôi đi lạnh lùng. Xa xứ và ly hương, như dòng sông Bến Hải chia đôi đất nước. Phạm Đình Chương phổ nhạc thơ Hoàng Anh Tuấn: “Mưa Sài Gòn, Mưa Hà Nội”, một bài hát mà mỗi khi người di cư nghe lại quặn đau:

“Mưa hoàng hôn trên thành phố heo may vào hồn
Thoảng hương tóc em ngày qua
Ôi người em Hồ Gươm về nương chiều tà
Liễu sầu úa thềm cũ nằm mơ hiền hòa
Thương mầu áo ngà
Thương mắt kiêu sa
Hiền ngoan thiết tha...“

Và, rồi còn nhiều nữa. ”Chuyến Đò Vĩ Tuyến“ của Lam Phương, “Đêm nay trăng sáng quá anh ơi, sao ta lìa cách bởi dòng sông bạc hai màu...”, “Bắc Một Nhịp Cầu “ của Hoàng Trọng, lời Hồ Đình Phương “Lạnh lùng phương Nam mơ bóng cây xanh ven hồ. Ngậm ngùi phương Bắc trông lúa xa xăm mong chờ. Vì một dòng sông xóa mờ. Tình đời lìa đôi bến bờ...”, “Vọng Cố Đô” của Đan Thọ và Nhật Bằng “Hà Nội ơi! Xa cách muôn trùng dương. Những lúc sương chiều xuống. Tìm đâu bóng Hồ Gươm lòng bao mến thương..”, “Mùa Hoa Nở“ của Cung Tiến “Chiều mưa thương nhớ đến bao giờ. Đường về nẻo Bắc xa mờ, mơ hồ. Đàn chim gieo thương nhớ. Câu tiếng nước nhà...“ Những bản nhạc ấy, trôi theo dòng sông âm nhạc và liên tiếp nhau để thành một thời đại hoài niệm, mà tiếng kêu tha thiết vẳng lên từ nơi chốn đã vời xa: Hà Nội. Tiếng hát, lời ca, không còn đơn thuần là ca khúc mà đi xa hơn, để thành chia sẻ, kỷ niệm của một phần của đời người. Bao nhiêu năm, với bao nhiêu ban nhạc thính phòng hoặc đại chúng, được trình diễn từ những ca sĩ tuyệt vời, những bản nhạc ấy vẫn sống, từ thời hòa bình tạm thời đến cuộc chiến khốc liệt. Mấy chục năm, vẫn không phai cảm xúc trong lòng khán thính giả...

Năm 1975, cơn hồng thủy lại đến với dân tộc Việt Nam. Đất nước thống nhất, hòa bình nhưng trại tù mở ra khắp nước. Kinh tế lụn bại, chính tình hà khắc, dân chúng đói khổ. Rồi đánh tư sản, rồi vơ vét tiền của người dân khiến hàng triệu người bỏ xứ ra đi tìm đất sống. Những chuyện phim như Chúng Tôi Muốn Sống, Đất Lành,..bỗng thành hiện thực. Và, dòng nhạc hoài niệm lại tiếp nối. Tâm tư, nỗi niềm của thế hệ, của thời đại lại phản ánh rõ nét. Ở hải ngoại, ngóng về quê hương, về Sài Gòn với tấm lòng tan nát. Nốt nhạc lời ca thành tiếng vọng gửi về qua khoảng cách của hai bờ đại dương. Không phải chỉ những nhạc sĩ hải ngoại mới viết nhạc hoài niệm xa xứ mà những người viết nhạc còn ở trong nước cũng sáng tác trong tâm cảm như vậy. Sài Gòn, sao khi nhắc đến toàn là chia ly, vĩnh biệt. Nguyễn Đình Toàn, khi còn ở trong nước đã viết “Nước Mắt Cho Sài Gòn”:

"Sài Gòn ơi! Ta mất người như người đã mất tên
như dòng sông nước quẩn quanh buồn
như người đi cách mặt xa lòng
Ta hỏi thầm em có nhớ không?

Sài Gòn ơi! Đến những ngày ôi hè phố xôn xao
Trong niềm vui tiếng hỏi câu chào
Sáng đời tươi thắm vạn sắc màu
Nay còn gì đâu..."

Bài hát ấy, bị một nhà văn trong nước mỉa mai rằng “là một bản nhạc cay cú về một thành phố mất tên”. Ông ta quên rằng Sài Gòn đã thành tên của một lãnh tụ công sản đầy tội ác: Hồ Chí Minh. Nhưng ai biết được chuyện dâu biển, những tên như Stalingrad, hay Leningrad ở Nga Xô Viết đã trở lại tên thành phố cũ thuở trước. Sài Gòn vẫn mãi là Sài Gòn.

Và, tôi không phải là một người thông hiểu về âm nhạc lắm nhưng cũng đã nghe nhiều bản nhạc với chủ đề hoài nhớ quê hương và khát vọng sẽ trở về khi đất nước tự do dân chủ. Như “Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên“ của Nguyễn Đình Toàn, “Sài Gòn Ơi Vĩnh Biệt“, “Người Di Tản Buồn” của Nam Lộc, “ Đêm Nhớ Về Sài Gòn” của Trầm Tử Thiêng, “Thương Nhớ Sài Gòn” của Phạm Duy, “Đêm Nhớ Trăng Sài Gòn“, thơ Du Tử Lê, nhạc Phạm Đình Chương, “Khi Xa Sài Gòn“, thơ Kim Tuấn, nhạc Lê Uyên Phương, “Cho Một Thành Phố Mất Tên”, thơ Hoàng Ngọc Ẩn, nhạc Phạm Đình Chương, “Sài Gòn Cảm Khúc“ của Trần Chí Phúc,...

Tôi yêu những bản nhạc nói giùm tôi những tâm tư và ước vọng. Độ chừng, nhiều người cũng giống tôi. Tôi chỉ yêu và thích chứ không đặt tiêu chuẩn hay dở. Có những khi, nghe những bản nhạc cũ, lại bồi hồi. Xốn xang. Tôi biết chắc một điều có những bản nhạc đã cùng sống và cùng thở với tôi trong chung một cuộc nhân sinh. Đâu có thể nào có ai mang cắt đi một phần tâm linh được.... Như mang xóa bỏ đi những bài hát hoài niệm yêu quê hương của thời đại tôi, dân tộc tôi... Dù, kẻ đó là những người của chế độ ngụy tín Cộng sản hiện hữu. Những bài hát ấy, có phải là bằng chứng cho một quãng thời gian đầy biến cố tang thương đau đớn. Chia ly, hận thù, giết chóc, chuyện quê hương,đất nước tôi...

Nguyễn Mạnh Trinh

Thứ Bảy, 14 tháng 7, 2007

Oan Ơi Ông Địa!

Nguyễn Mạnh San

Người Việt Nam khi đi ăn nhà hàng thường hay gọi mấy món ăn chơi trước nhưng thực ra là ăn thiệt, rồi mới đến món ăn chính. Hoặc đôi khi người ta còn nói là làm chơi mà có tiền nhưng thực ra làm thiệt. Có khi công việc làm chơi còn vất vả hơn công việc làm thiệt rất nhiều.

Rồi đôi khi người ta chỉ nói chơi cho vui chứ không có ý gì, hoặc đôi khi người ta có hành động nhưng trong đầu óc họ không hề có dụng ý gì xấu xa, đen tối. Thế nhưng ở Hoa Kỳ người Việt Nam ta cần phải nên thận trọng từ lời nói chơi cho đến hành động vô tư của mình.

Trong hai câu chuyện mà tôi sắp kể lại sau đây, do một câu nói chơi cho vui đối với một cậu bé Mỹ lên 10 tuổi: “Hãy đi chỗ khác chơi, tao xẻo chim mày bây giờ” và “Một hành động sờ chim con nít” của một ông già, hoàn toàn không có dụng ý tình dục.

Vậy mà cả 2 người Việt Nam đã bị tống giam và lãnh án tù chỉ vì một câu nói đùa cho vui và cũng chỉ vì một hành động sờ chơi theo thói quen khi còn ở quê nhà mà phải ân hận suốt đời. Bởi vì nếu hiểu theo mặt tình cảm thì hai người này hoàn toàn vô tội, nhưng đứng về mặt pháp lý thì hai ông đều phạm trọng tội vì tình thì ngay nhưng lý lại gian như sau:

Trước hết là câu chuyện một ông già tỵ nạn với cậu bé người bản xứ 10 tuổi. Ông A đang cầm cái kéo to dài để tỉa hàng rào cây bao bọc chung quanh nhà của ông ta với người con trai 14 tuổi cũng đang phụ giúp bố để hốt những lá cây, bỏ vào túi rác. Bất chợt một cậu bé Mỹ ở nhà bên cạnh, chạy đến gần để xem ông tỉa cây. Ông bèn giơ cái kéo lên cao, đưa gần vào mặt cậu và nói chơi với cậu bé: “Mày hãy lui ra chỗ khác chơi cho tao nhờ, nếu không tao sẽ xẻo chim mày bây giờ”. Con trai của ông liền dịch sang tiếng Mỹ cho đứa bé nghe. Sợ qúa, nó hốt hoảng chạy về nhà mách mẹ của nó. Nghe xong, mẹ đứa bé liền nhấc điện thoại gọi 911 và chỉ ít phút sau, cảnh sát đến còng hai tay ông ta, đưa ông ta lên xe, đem về trại tạm giam.

Sáu tháng sau, phiên tòa xử ông A có Bồi Thẩm Đoàn. Luật sư bên Công Tố Viện trình bầy tự sự, kèm theo sự biểu diễn lại các động tác bằng tang vật là cái kéo to dài của ông A, và nhắc lại lời nói chơi đe dọa đứa nhỏ của ông A trước phiên Tòa. Mặc dù có sự biện hộ khá tỉ mỉ của vị luật sư đang cố gắng bênh vực cho ông ta được hoàn toàn vô tội, nhưng Bồi Thẩm Đoàn vẫn đồng nhất bỏ phiếu là ông A thực sự có phạm tội đe dọa trẻ con dưới tuổi vị thành niên bằng vũ khí nguy hiểm. Ông A bị Toà tuyên án 5 năm tù ở về tội mưu toan giết người với vũ khí nguy hiểm. Nếu trong thời gian ở tù ông ta có hạnh kiểm tốt thì ông ta chỉ cần ở trong tù 2 năm rưỡi, thời gian còn lại, ông ta sẽ được tại ngoại trở về nhà để thi hành cho xong bản án 5 năm của ông.

Trước ngày ông phải rời bỏ trại tạm giam để lên đường đến một trại tù khác, ông buồn rầu than thở với tôi rằng hồi ông còn ở Việt Nam, ông vẫn thường nói chơi với tụi trẻ con ở bên hàng xóm hay với con cháu trong nhà, câu nói như vậy. Ðôi khi còn nói nặng hơn nhiều, ổng kể lại có lúc ông vừa nói vừa trợn trừng đôi mắt, giả vờ như rất tức giận, hét lên: “Mày mà không đi ngay cho khuất mắt tao, tao bắn bỏ mạng mày bây giờ, hoặc tao hỏi mày không nói hả, tiện có con dao bén đây, tao sẽ mổ họng mày ra hay tao sẽ cắt lưỡi, bẻ răng mày ra từng cái ngay bây giờ.” Vậy mà có sao đâu.

Giờ đây chạy thoát được Cộng Sản, suýt tí nữa bị toi mạng sống trên biển cả để đến được cái xứ Cờ Hoa nổi tiếng là tự do, dân chủ và văn minh nhất thế giới này. Nhưng chỉ vì một câu nói chơi cho vui mà mang họa. Ông luật sư Công Tố Viện lập lại lời nói đe dọa chơi của tôi và cầm cái kéo tỉa cây to dài của tôi, giơ nó lên cao khỏi đầu, dí nó sát vào mặt con búp bê, tượng trưng cho thằng nhỏ, làm cho Bồi Thẩm Đoàn vừa nghe vừa nhìn thấy cảnh tượng hãi hùng này như họ đang được coi một phim khủng long, thì bố bảo ai coi mà chả phải hồi hộp, toát mồ hôi lạnh. Có khi họ muốn vãi cả nước trong quần ra là đàng khác, nên họ tin ngay là tôi nói thật và sắp làm thật đối với đứa trẻ nhỏ, để hôm nay tôi phải ngồi tù 5 năm. Nếu biết trước được sự thể như thế này thì thà tôi nói chơi nhưng làm thật cho đáng đồng tiền bát gạo đối với những ngày tôi phải ở tù.

Thầy thấy không, thật là quá oan ức cho tôi, chỉ có Chúa mới biết rõ lòng dạ con người và nhất là người Việt Nam đều hiểu câu nói chơi 100% này của tôi. Xin Thầy làm ơn làm phúc, nhớ cầu nguyện ơn trên ban xuống cho tôi được một lòng giữ vững đức tin vào Chúa để tiếp tục vác Thánh Gía theo chân Chúa trong những ngày còn lại của đời tôi ở trên thế gian này.

Còn nói về trường hợp ông B đã khá lớn tuổi, cháu nội gái của ông tên là Cúc ở chung nhà với ông. Ðối diện trông sang nhà ông có cô con gái người Mỹ tên là Linda, học chung một trường với cháu ông. Mỗi buổi chiều tan học về, Linda đều bế em trai út của Linda sang nhà Cúc chơi cho tới 6 giờ 30 chiều khi mẹ cô ta tan sở làm về thì Linda mới bế em bé về nhà.

Rồi một hôm ông B có người bạn rất thân đến nhà thăm ông B, trong khi ông B có vẻ thích thú, đang ôm ấp trong đôi cánh tay ông đứa bé béo tròn, em trai Linda. Đặc biệt đứa bé này có đôi mắt xanh biếc như hai hòn bi ve và có mái tóc nâu óng ánh như những sợi tơ hồng. Trong lúc ông B đang ngồi nói chuyện với người bạn và đôi cánh tay ông vẫn ôm chặt đứa bé trông kháu khỉnh dễ thương này ở trên đùi của ông, thì bất chợt, ông lấy tay vạch cái tã của đứa bé ra để con chim của nó lòi hẳn ra ngoài và ông khoe với người bạn: “Này, anh hãy nhìn cho kỹ xem, sao mà con chim của nó trông đẹp mũm mĩm, đỏ tròn như trái ớt chín tươi nhỉ?”.

Trong khi ông nói như thế thì tay ông lại nâng niu con chim của đứa bé. Linda, chị của đứa bé tình cờ đi qua, nhìn thấy tận mắt một tay ông B đang ôm chặt trên ngực đứa bé, còn tay kia thì đang nâng niu con chim của đứa bé.

Buổi tối hôm đó về nhà, Linda kể lại rõ hành động kỳ lạ của ông B cho mẹ nghe. Ngay sau đó, mẹ Linda gọi điện thoại trình báo cho cảnh sát biết sự việc xẩy ra theo đúng như lời của con gái bà đã thuật lại cho bà nghe.

Thế là tối khuya hôm đó, cảnh sát đến nhà còng hai tay ông B, dẫn lên xe đưa về trại giam và ông B được cảnh sát cho biết ông phạm tội kích thích tình dục trẻ thơ.

Mặc dù ông có luật sư riêng bênh vực ông trong phiên xử, nhưng Bồi Thẩm Đoàn vẫn đồng nhất bỏ phiếu cho ông là hoàn toàn có tội và Tòa tuyên án ông B 3 năm tù ở về tội sờ mó con nít với dụng ý kích thích tình dục.

Sau ngày ông B lãnh án, tôi có đến gặp ông lần chót và nét mặt ông B tỏ ra vừa buồn rầu lẫn bực tức, cho rằng mình hoàn toàn bị oan ức, ông nói: “Chắc Thầy Sáu còn lạ gì ở Việt Nam, vấn đề sờ chim con nít là chuyện thường, vì bố thương con hay ông thương cháu, vẫn thường lấy tay nâng niu chim của con hay của cháu và đôi khi còn lấy miệng hôn nó nữa”.

Tôi đồng ý với ông B, vì chính tôi đã có lần nhìn thấy cảnh tượng này khi tôi còn nhỏ tuổi ở dưới quê nội. Ông B lại kể tiếp: “Đây không phải là lần đầu tiên tôi có hành động đó mà thật ra đã nhiều lần rồi, vì tôi rất thương mến đứa bé Mỹ này, mặt mũi nó trông khôi ngô, sáng sủa, xinh đẹp như con búp bê và con chim nó thì lại trông tròn trĩnh, hồng hào như trái ớt tươi mới hái ở cây đem vào nhà; quen thói ở Việt Nam, tôi mới nâng niu nó. Chứ thú thật với Thầy, cách đây khoảng 2 năm, tôi về Việt Nam liên tục 6 tháng, có biết bao nhiêu cô gái xinh tươi trẻ đẹp, đáng tuổi con cháu của tôi, muốn quyến rũ tôi đi chơi riêng với họ. Thậm chí có cô còn dám ngỏ lời ong bướm, muốn lấy tôi làm chồng để theo tôi về Hoa Kỳ. Nhưng tôi nhất quyết từ chối, không đi chơi mà cũng không lấy ai hết, mặc dù vợ tôi đã qua đời hơn 8 năm nay rồi và bây giờ tôi đã là ông nội ông ngoại cả rồi. Vậy tôi điên khùng gì mà lại đi làm chuyện kỳ quặc, quái gở như thế đối với một đứa con nít, tâm hồn nó còn trong trắng, hồn nhiên như Thiên Thần. Đúng là ngày giờ tôi gặp phải sao quả tạ và tôi nghĩ lại khi còn trẻ, có lẽ tôi phạm tội nhiều nên giờ này tôi bị Chúa phạt”.

Chờ ông nói xong, tôi liền giải thích cho ông hiểu là Chúa luôn luôn nhân từ, thương hết mọi người, Ngài chẳng hề ghét bỏ hay phạt vạ ai bao giờ, dù người đó hung ác hay xấu xa thế mấy đi chăng nữa, nếu có lòng ăn năn sám hối tội lỗi của mình, Ngài vẫn thương yêu và còn tha thứ hết mọi tội lỗi cho họ. Chỉ có người đời khi bị tù tội hoặc gặp hoạn nạn, thường hay âm thầm tự nghĩ, hoặc nói là tại mình tội lỗi qúa nên bị Chúa phạt. Vô tình người ta đã gán cho Chúa một hành động qúa nghiêm khắc mà thực ra Chúa đâu có làm.

Tôi cũng nhắc nhở ông rằng giờ phút này, ông đâu còn sống ở Việt Nam nữa, ông đang sinh sống ở trên xứ lạ quê người, ông cần phải biết tuân giữ luật lệ và tập tục của người ta như câu: “Nhập gia thì phải tùy tục.” Bởi vì mỗi một quốc gia đều có một nền văn hóa riêng và một số tập tục khác biệt hẳn với những quốc gia khác trên thế giới.

Chẳng hạn như ở Việt Nam, nếu lỡ có đi tè bậy nơi công cộng cũng chẳng sao và nếu có tè bậy ở sau vườn nhà của mình thì lại càng được bảo đảm an ninh hơn nữa, vì sẽ không sợ ai đi thưa kiện mình trước pháp luật. Nhưng ở đây nếu làm như vậy và ngay cả làm như vậy ở trong vườn nhà mình, nếu có người hàng xóm vô tình mà nhìn thấy, gọi điện thoại cho cảnh sát biết thì sẽ bị đưa về bót, đóng tiền thế chân tại ngoại để chờ ngày ra Toà xét xử. Nên biết rằng cho dù người hàng xóm nhìn thấy cảnh tượng đó là một bà lão gần đất xa trời hay là một em bé gái dưới tuổi vị tuổi thành niên còn thơ ấu mà nhìn thấy cảnh tượng đó thì tội phạm lại càng nặng hơn nhiều. Ðôi khi có thể bị buộc tội là cố ý khiêu khích tình dục đối với bà lão hay đối với em bé còn thơ ngây.

Lạm dụng tình dục, nhất là đối với trẻ em là tội lớn đối với luật pháp Hoa Kỳ. Mới đây một tòa án ở tiểu bang Texas đã kết tội một người trung niên bản xứ 365 năm tù vì đã có hành động như vậy với sáu em bé vị thành niên.

Thành ra khi kể lại hai trường hợp tình ngay lý gian trên đây chúng tôi chỉ muốn lưu ý đồng hương cẩn thận trong việc giao tế thân mật với người bản xứ.

(*) Ông Nguyễn Mạnh San là Phó Tế tại Oklahoma City-Oklahoma.

Thứ Hai, 9 tháng 7, 2007

TINH SƯƠNG

Trần Mộng Tú

Tôi cúi xuống buộc sợi giây trên đôi giầy vải, khép cánh cửa lại sau lưng, bước xuồng bực thềm còn ướt đẫm sương, rón rén đi vào buổi sáng. Tôi không dám bước mạnh, sợ làm nứt rạn một bình minh chưa đến. Buổi sáng chập choạng ánh sáng mờ mờ, mặt trời còn ở đâu, ai mà biết được, tôi cũng chẳng tò mò. Tôi khe khẽ xuống con dốc ngay trước nhà mình rồi đi về phía hồ, bước từng bước ngắn, để khỏi lao mình theo dốc. Những hàng cây thông trong tinh sương có mầu xám bạc, chụm đầu vào nhau đang bàn tán một điều gì đó, tôi cũng chẳng muốn hỏi cho ra lẽ. Cây có đời cây, gió có đời gió, tôi có đời tôi, mặc dù cây gió luôn quấn quít vào nhau, và tôi vừa yêu cây, vừa yêu gió, nhưng thật sự mỗi lòai có một đời riêng, tò mò làm chi.

Những bụi cây nhỏ và thấp giống như những đứa bé con còn ngủ vùi, không biết cha mẹ đang thầm thì điều gì với nhau, âu yếm hay cằn nhằn? Cả xóm im lặng trong sớm mai, thỉnh thỏang nghe tiếng kêu quặc quặc của hai con vịt đi tìm ăn sáng sớm, lạc gọi nhau. Những ngôi nhà hai bên đường chỉ là những hình khối mờ mờ như những ngôi nhà vẽ trong tranh hay những ngôi nhà dựng sẵn ở phim trường, những cánh cửa đóng im ỉm từ phía trong như đang giấu một trái tim đập ngập ngừng trong ngực; bóng tối loang lõang nhẹ nhàng sau những cánh cửa hắt ra hiền lành như những cô gái chưa yêu, như cây đèn chưa hề thắp còn nguyên một bình dầu lúc nào cũng muốn sánh ra ngoài. Buổi sáng thật tinh khôi!

Tôi đi vòng trong xóm, bước thấp, bước cao, đi lên, đi xuống, những thảm cỏ vẫn đang nằm mơ, những giấc mơ nhuộm mầu xanh biếc, ướt sũng như vừa ngủ vừa khóc trong mơ, nghĩ mình cũng khác gì cỏ nhiều khi như thế. Có vũng nước nhỏ im ắng ngay dưới chân đi, cúi soi mặt vào chưa nhìn rõ bóng mình. Cái khuôn mặt trong vũng nước không mắt, không mũi trông lạ thật, ai đấy? Ngước mắt nhìn trời, một bầu trời mênh mông xa ngái, sao mai chưa mọc, sao hôm đêm qua không một ngôi nào sót lại. Còn gì cô đơn hơn một bầu trời không một cánh sao! Không biết khi trời cô đơn thì Trời làm gì? Chắc Trời khóc, vì bầu trời đầy sao đêm trước là báo hiệu ngày mai nhiều nắng, trời không sao trời sẽ mưa. Nhìn xuống phía hồ, mặt nước như một chiếc chăn len xám rũ tung ra mà không có ai kéo đắp, chiếc chăn phẳng lì không một vết nhăn, những hàng lau bên kia ven hồ xa xa trong tối như những mảng mầu thẫm của một bức tranh sơn dầu, trong khi đó dẫy núi trên cao như một người luống tuổi, run rẩy trong vòng ôm mong manh của một vài vạt tuyết mỏng.


Tôi đi lên dốc, đi xuống dốc, đi dọc, đi ngang, lòng trống trải, chắc tại đi một mình, mà cỏ cây thì chưa muốn chuyện trò. Nhìn xuống đôi giầy, biết trong đó có những ngón chân của mình, đôi giầy cũ, ngón chân cũng cũ, sao vẫn thấy cả hai cùng lạ lẫm. Đi hoài không biết mình đi dâu, nhìn thấy cánh cửa nhà mình rồi vẫn thấy có điều gì khang khác, lại đi. Thì ra buổi sáng chưa bắt đầu, tôi vẫn chưa bắt đầu.

Cuộc đời ở đâu? Tôi tiếp tục đi, vừa đi vừa khe khẽ gọi mình. Trong một hốc đá nào đó một con thỏ hay một con sóc chạy ra, băng vụt trước mặt như báo cho biết chúng cũng dậy rất sớm và chúng đồng hành.

Tôi đã đi như thế trong bao nhiêu buổi sáng của đời mình, không biết bao nhiêu lần, không nhớ rõ rệt những chỗ mình đã đi, ở thành phố nào xa lắc xa lơ. Trong mấy chục năm làm người đã bao lần rời đổi, mỗi nơi một cảnh vật, những dòng sông, những dẫy núi, những ngôi nhà, những hàng rào, những hàng cây cao, những bụi hoa thấp, tất cả khác nhau và chắc chắn đời sống khác nhau. Nhưng hình như cái cảm giác đi trong buổi sáng tinh mơ lại rất giống nhau.Có một cái gì tinh khôi, trong trẻo, lạ lẫm và quyến rũ của đầu ngày. Như khuôn mặt vừa thức dậy, còn lơ mơ giữa tỉnh thức, môi chưa chạm son, tóc chưa chạm lược, như một khúc lụa chưa cắt thành áo, cứ giũ tung ra rồi lại cuộn vào, như một mối tình chưa đi đến hôn nhân, cứ ửng đỏ dần dần. Chao ôi là đẹp! Đi trong một buổi sáng tinh mơ, đi một mình, mình hỏi chuyện mình, mình gọi tên mình, những ý nghĩ đơn sơ, không phải thốt thành lời khôn khéo cho êm tai người nghe; Nói chuyện với buổi sáng, giữa lúc mặt trăng, mặt trời đổi chỗ cho nhau, mầu đậm đặc của đêm pha vào mầu hồng ửng sáng, giữa lúc âm dương nhè nhẹ nhường nhịn lẫn nhau. Một cuộc đối thoại trong thinh lặng giữa một con người nhỏ nhoi và thiên nhiên tràn ngập khí hạo nhiên.

Đi quá chân một chút là ngày sẽ đến, mặt trời, mặt người, và mặt hoa cỏ cùng hiện ra một lượt với những tiếng động khe khẽ bắt đầu. Mấy mảnh núi tuyết không còn là những mảng trắng mơ hồ mềm mại nữa, mặt trời đã làm cho tuyết và núi cùng mang một khuôn mặt mới mẻ khác, Bây giờ núi không còn là một ông già, núi đã trở thành một con rồng với những chiếc vẩy bạc lấp lánh đang nằm soãi dọc theo hồ với tất cả niềm tự hào. Tấm chăn xám trên mặt hồ được cuốn ngay lại, phô ra một vùng nước bạc sóng sánh dưới ánh mặt trời, sẵn sàng đón những cánh buồm căng trong gió, đi vào một nơi không biết trước. Những hàng cây hai bên không còn là những mảng mầu tối của một bức tranh, chúng bắt đầu khoe những đường gân lá, như một thanh niên mới lớn nhìn xuống cánh tay mình. Những bụi hoa nhỏ như những đứa bé vừa ngủ dậy, chúng mở từng cánh, như những con mắt trẻ thơ sau một giấc ngủ ngon. Những cánh cửa cũng lần lượt theo nhau mở ra. Trẻ con, người lớn mỗi người đem một mảnh đời ra khỏi ngôi nhà thả vào con đường trước mặt. Bao nhiêu hy vọng trải đưới ánh mặt trời, tiếng cười, tiếng khóc cùng theo nhau vỡ òa. Trái tim chưa biết yêu, đẩy cánh cửa bước ra, đi tìm tình yêu trong vũng ánh sáng đầu ngày lấp lánh. Ngày bắt đầu rất nồng nàn như cô thiếu nữ vội tô son, chải tóc, mang khúc lụa thời gian ra may cắt, sợ buổi chiều sẽ ập đến xóa mất tuổi xuân.

Bao giờ cũng thế, tôi tìm về nhà trước khi tiếng động cơ của xe cộ bắt đầu.

tmt
Tháng Năm-2007

Chiếc Bình Trà Sứt Vòi Trên Nhà Thủy Tạ

Thứ sáu tuần trước, lúc mặt trời chưa mọc, tôi có việc phải đi qua thành phố Orange. Hai dãy phố nhỏ nằm dọc theo con đường Glassell có những cây cổ thụ lá bắt đầu ngả vàng. Gần một công viên nhỏ, trên bờ hè, có một quán cà phê che dù, mặc dầu trời lạnh, có những đôi vợ chồng già cổ quàng khăn ấm đang ngồi trước ly cà phê buổi sáng. Trời sương mù làm những ngọn đèn đường càng thêm hư ảo. Những ngôi nhà gỗ, những cây thông mờ nhạt lẫn trong sương.

Giá mà tôi có thể dừng lại, vào quán cà phê, cởi chiếc áo choàng phủ sương, gọi một ly cà phê đậm thật nóng, trên tay một điếu thuốc " Nhưng nghĩ đến tách cà phê lễnh loãng và chạnh lòng nghĩ đến mình là một khách tha hương, bỗng dưng tôi thấy mất hết hứng thú. Tôi lái xe chậm lại và nghĩ đến một thành phố trong dĩ vãng. Thành phố này và buổi sáng sương mù làm cho tôi nhớ đến Đà Lạt.

Tôi vẫn nhớ đến tháp chuông Nhà Thờ Con Gà nổi lên trong sương mù Đà Lạt. Tôi vẫn nhớ tiếng chuông leng keng của những chiếc xe ngựa quanh bờ hồ Xuân Hương. Tôi vẫn nhớ đến đôi má ửng đỏ của những thiếu nữ Đà Lạt cũng như Đà Lạt với những vườn hoa hồng, hoa mận, hoa đào và những chùm hoa mimosa bên đường. Tôi vẫn nhớ đến Đà Lạt với mùa phấn thông vàng. Đà Lạt tĩnh mịch, êm ả như chốn thiên đường. Đà Lạt đồi cao, đường thấp một tiếng xe qua cũng làm phá vỡ sự yên lặng của một buổi chiều.

Tôi yêu sự náo nhiệt nồng cháy của Sàigòn nhưng mỗi khi bước xuống phi trường Liên Khương, bỗng dưng thấy mình như bước qua một thế giới khác. Sự yên lặng, thoáng khí và một chút hơi lạnh cùng với mùi của cỏ cây khiến cho lòng tôi như dịu lại.

Đà Lạt là một thành phố giàu có. Tiểu tư sản và Đà Lạt quá Đà Lạt như một cô tiểu thư sang trọng sống trong ngôi biệt thự phủ đầy hoa hồng. Phải chăng nếu Đà Lạt nghèo đói, tồi tàn thì Đà Lạt không còn gì là thơ mộng, không còn đẹp đẽ nữa.

Tôi trở lại Đà Lạt vào đầu mùa mưa năm 1988. Đà Lạt giờ này chẳng còn thân quyến, chẳng còn bạn bè. Chủ nhân của những căn biệt thự trên đồi, chủ nhân của những tòa nhà tráng lệ đã đi xa rồi. Những khu vườn hoa hồng chẳng còn ai săn sóc, phải chăng những cánh hoa thắm sắc đã rụng để cây hồng chỉ còn lại lá và gai. Những bãi cỏ đã được cày cuốc thêm để lấy thêm một ít diện tích cho rau cải, tưởng như với một vài khoảnh đất ấy mà người ta có thể làm giàu cho đất nước. Rau cải có thừa, đường sá đi lại đã không bị gài bẫy đắp mô và xăng cũng không có, xe không thừa để vận tải rau cải đi khắp nơi.

Đà Lạt chắc hẳn đã nghèo đi về tài nguyên và đã nghèo đi cả màu sắc. Chợ Hòa Bình ngày nay ít có màu tươi sáng của những tà áo Sàigòn, Nha Trang ghé lại. Những màu áo len cùng với đôi má đỏ hây hây hoa đào ngày trước tưởng chừng như biến mất.

Đà Lạt với những chàng trai Võ Bị, Chiến Tranh Chính trị với những cô gái Đại Học Kinh Doanh. Đà Lạt với những chàng thiếu niên Yersin và những cô gái Couvent des Oiseaux. Đà Lạt với những mối tình sử bên Hồ Than Thở mà đâu nghe tiếng gió thở dài trên đỉnh thông già. Tiếng thác Gu-Ga vẫn ầm ầm đổ nước bất chấp mọi thay đổi dưới giòng suối kia. Cái vô tư của tạo vật làm buồn thêm lòng người trở lại Đà Lạt.

Đứng trên lầu khách sạn Ngọc Lan nhìn về phía Nhà Thờ, mây vẫn trắng trời vẫn xanh, nhìn về Hồ Xuân Hương vẫn bóng nước in mây trời, nhà thủy tạ chói sáng trên mặt hồ. Nhưng nhìn về phía khu Hòa Bình, hình như những màu sắc ngày xưa cùng những bóng người đã thay đổi. Có lẫn lộn nhiều màu xám lục của những bộ đồ trận bộ đội cùng với những chiếc nón cối, những chiếc áo trấn thủ để sống qua nhiều năm trận mạc, giờ đây đã tràn đầy trên thành phố hoa hồng ngày nào. Tôi nghe tiếng nói hình như đã đổi khác. Ngày xưa Đà Lạt là đất cao nguyên của người dân thiểu số, sau đó Đà Lạt tràn ngập giọng Huế theo vua Nguyễn lên Hoàng Triều Cương Thổ tạo lập một khối dân cư chính, phần đông là lính ngự lâm quân của Bảo Long, một số khác phục vụ trong các dinh cơ của Hoàng Đế. Một phần dân cư Đà Lạt pha lẫn Bình Định, Khánh Hòa, Phú Yên "

Quả thật Đà Lạt chẳng còn ai. Ngày xưa bạn bè phần đông phục vụ trong các quân trường, cơ quan quân sự, các đại học, các trường trung học. Lớp lớp bỏ Đà Lạt ra đi đã nhiều. Nhiều gia đình lập nghiệp ở Đà Lạt đã lâu cũng đã bỏ về các miền xuôi miền biển những năm 80 để tìm một con đường sống. Có cố tìm lại cũng chẳng thấy được một người quen.

Giờ đây ở Đà Lạt tôi chỉ còn có hai người quen. Đó là hai người cháu ở lớp tuổi trung học đệ nhất cấp ngày đất nước tan hoang, ngày nay hai anh em đều làm bác sĩ ở bệnh viện tỉnh. Buổi chiều họ đạp xe đạp ở bệnh viện về, qua chợ mua bó rau vội vã về nhà khám bệnh chích thuốc cho một vài bệnh nhân nghèo để có tiền trả tiền nhà và dành dụm về quê thăm bố mẹ. Cô cháu cũng đã gần ba mươi, khi tôi hỏi đến chuyện vợ chồng, cô thành thật nói:

- Chú nghĩ coi, cháu tìm đâu ra một người chồng trong cái đám ở đây, khi cháu là một bác sĩ. Toàn đui què mẻ sứt cả. Thôi cháu đành ở già thôi.

Buổi tối Đà lạt lành lạnh, có hơi sương làm người ta nghĩ đến chuyện đi uống một tách cà phê nóng. Đành phải xuống nhà thủy tạ nơi mà trước kia những người thường ghé qua Đà Lạt không thể bỏ qua. Ngồi ở đó, bên một vài người bạn hay với người yêu, uống một tách cà phê hay một tách trà nóng, nhìn ra mặt hồ trong đêm tối, tưởng như không có gì thú vị bằng. Khách thường ngồi ở những quán cà phê Sàigòn, ở Brodard hay ở Givral, ầm ầm những tiếng xe trên đường qua lại, được ngồi một vài giây phút ở đây, trên nhà thủy tạ giữa bờ hồ Xuân Hương, để thấy lòng mình yên tĩnh, thư thái hơn.

Hồ Xuân Hương, quả là ai đó đã chơi chữ đem chữ Xuân Hương đặt tên cho Hồ, để người ta hay nhắc đến người nữ sĩ hay ỡm ờ, tinh quái này mỗi lần nói đến Đà Lạt, mặc dù Đà Lạt chẳng có gì khiến ta liên tưởng đến nhà thơ này.

Trong khi chờ cà phê, người "nữ mậu dịch quốc doanh" đem ra một bình trà và hai chiếc tách để xuống bàn. Tôi đang lơ mơ mãi nhìn qua phía bên kia hồ, tiếng động làm tôi quay lại. Bạn ơi, trên mặt bàn là một bình trà sứt vòi, vỡ nắp và hai chiếc chén, tất cả đều bằng sành. Tôi định kêu người mậu dịch viên trở lại nhưng cô ấy đã đi khuất sau cánh cửa. Cháu tôi hỏi : "Chú định gọi gì thêm?" Tôi liếc mắt nhìn xuống bình trà. "Chuyện ấy là thường chú ạ!"

Trong trí nhớ tôi, tôi vẫn thường nghĩ về một Đà Lạt dịu dàng, sang trọng đẹp đẽ, mặc dù điều ấy giờ đây có thể sai. Nhưng chiếc bình trà vàng ố, sứt vòi, vỡ nắp nằm thách đố trên chiếc bàn, dưới ánh đèn làm tôi cảm thấy nghẹn tức, như có một điều gì bất như ý hiện ra trong lúc tôi đang vui.

Đã mười bốn năm qua từ ngày miền Nam bước vào một thời kỳ mới, những năm đầu có khó khăn đã đành, đến nay vẫn còn giai đoạn cửa hàng nhà nước, quốc doanh với những cô mậu dịch viên mặt mày nặng nề, chanh chua và một chiếc bình trà sứt vòi trên nhà thủy tạ Đà Lạt tối nay.

Lẽ nào người ta kéo đất nước vào một tình trạng nghèo đói, thê thảm và sống sượng như thế này. Không bao giờ ai có thể tưởng tượng con cháu chúng ta lại thấy được cái xe hơi chạy bằng than trên đường phố hôm nay, và cho đến 1988 vẫn còn cái "cửa hàng nhà nước" tồn tại.

Buổi tối hôm ấy trên nhà thủy tạ, đáng lẽ chúng tôi phải nói đến chuyện vui buồn đi ở, thì nói nhiều đến chuyện đất nước tan hoang. Bây giờ chỉ còn trông cậy vào lớp thanh niên, có học yêu nước thương nòi, ráng đổi mới, cách mạng xây dựng đất nước. Những người cầm quyền vừa lạc hậu vừa ngu dốt đang còn cố bám lấy ngai vàng, yêu bản thân và quyền lợi của mình hơn cả đất nước và lê dân. Đổi mới, làm giàu quê hương, xây dựng lại dân chủ thì sợ mất chức, chạm đến đặc quyền đặc lợi của mình.

Tôi nghĩ đến hai đứa cháu tôi đang ở Đà lạt và tôi sẽ gặp lại chúng vào một ngày không xa nhưng chắc chắn sẽ vui hơn, lành lặn hơn. Hôm sau trên chuyến xe đò trở lại Sàigòn, tâm trí tôi vẫn còn bị ám ảnh bởi chiếc bình trà, và bây giờ, sáng nay, nhớ Đà Lạt đến ray rứt, tôi không làm sao gạt ra ngoài ý nghĩ về chiếc bình trà sứt vòi trên nhà thủy tạ Đà Lạt đêm hôm ấy.

Huy Phương
(trích trong Nước Mỹ Lạnh Lùng)