Hiển thị các bài đăng có nhãn Giới thiệu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Giới thiệu. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 8 tháng 7, 2007

Với Bốn Phương Chìm Nổi - Việt Dương Nhân

Xem chương trình Buổi RMS của chị VDN vừa đăng tải trên Tao Ngộ hay quá, nhưng phải bỏ giữa chừng vì đã đến giờ tôi phải đi làm, tiếc thật ...

Chương trình rất phong phú , có đầy đủ màu sắc nhất là giữa hai giới , một thế hệ lão thành và một thế hệ thứ hai đang tiếp tục những con đường của các bậc cha anh đã đi qua . Theo dõi chương trình này , tôi thấy được nhiều khuôn mặt từng có tiếng tăm một thời như nhà văn Hồ Trường An, nhà ký giả Trần Trung Quân, nhà văn kiêm thi sĩ Đỗ Bình, nhà thơ kiêm phóng sự Bích Xuân và nhà báo kiêm nhà văn lão thành Tô Vũ v.v..

Đặc biệt nhất là chương trình buổi lể RMS của chị mở đầu vẫn là chào Quốc Kỳ và hát Quốc Ca , một hình thức rất trang nghiêm cho các buổi lễ . Dáng dấp người nữ MC mặc áo dài vàng có cờ ba sọc đã làm tôi hảnh diện lây, nhìn tờ chương trình cũng đã trân trọng với bìa cứng có hình cờ vàng ba sọc mà thấy rưng rưng trong lòng . Tôi cũng đã từng khóc vì xúc động mỗi khi được hát Quốc Ca và nghiêm trang dươí màu cờ Tổ Quốc không biết bao nhiêu lần rồi, nhưng mỗi lần nhìn lại vẫn là một xúc động không kém .

Người thơ VDN đã cho chúng ta xem một chương trình thật phong phú khi chị và các bạn hưữ tổ chức buổi lễ RMS cách đây đã gần 10 năm rồi, chị chính là con chim đầu đàn của những buớc đầu khó khăn và sôi động cho tập thơ đầu tay khi ra mắt. Trong mười năm trước vấn đề ra mắt một tập thơ không được dễ dàng như bây giờ, là cần đòi hỏi tên tuổi của nhà văn hay một nhà thơ phải được mọi người biết đến nếu không thì khó mà nhà xuất bản nào nhận lời, bằng không tác gia phả tự bỏ tiền in ấn và xuất bản .

Giòng thơ của VDN không chỉ là những giòng thơ chỉ biết nói về những tình cảm vụn vặt của con người mà còn là tình cảm xa xôi hơn khi nghĩ về quê hương mà ngàn trùng cách biệt . Đức Tùng một nhà thơ trẻ ở thế hệ thứ hai đã cảm được lời thơ của tác giả khi đọc và thấy nỗi lòng trong bài thơ của chị vìết về một quê hương dấu yêu, nhắn nhủ các đứa con vẫn còn đang tha hương lạc loài nơi đất khách. Bài thơ này đã làm xúc động tâm tình của người trai trẻ khi nghĩ tới quê hương và thân phận lưu đầy nơi đất khách.

Tất cả những bài hát trong chương trình có lẽ đã chọn lọc rất kỹ vì toàn nhạc viết cho quê hương, chỉ một vài bài nhạc tình cảm nhẹ nhàng thôi . Giọng ngâm của chị Ngọc Xuân rất tình cảm qua nhiều vần thơ tiêu biểu trong tập thơ Bốn Phương Chìm Nổi của VDN, giọng ngâm Ngọc Xuân nếu tôi không nhìn rõ mặt tôi cứ ngỡ là giọng ngâm của ca sĩ Hoàng Oanh khả ái mà tôi từng mến mộ .

Việt Dương Nhân

Nói chung đây là một thành công không nhỏ đối với nhà thơ nữ VDN của chúng ta, dù đã sau mười năm nhưng hào khí của chị tôi vẫn còn thấy ở những thời điểm như mỗi năm cứ gần đến ngày 30 tháng 04 là bằng mọi cách ngay trang thơ chị nơi chị đang cộng tác trên các diễn đàn đã dẫn topic lên hàng đầu trong suốt thời gian Tưởng Niệm cho ngày 30 tháng 04 vừa qua như tôi đã được biết . Chị vẫn hăng say làm việc và vẫn một lòng chung thủy với quê hương..

Cuối cùng là lời nhận xét và phê bình tập thơ Bốn Phương Chìm Nỗi của nhà báo lão thành Tô Vũ , ông trân trọng giòng thơ của VDN , qua tuyển tập mà ông đã đọc, đề tài tập thơ viết về quê hương ,viết cho thân phận con người và nỗi chán chường cho tình ái long đong của kiếp má hồng phận bạc và tôn giáo .Cuối cùng nhà thơ chỉ còn biết tìm về nơi chốn Đạo Pháp lấy câu kinh tiếng kệ quên đi cuộc sống đời thường . Ông đã chúc mừng nhà thơ VDN khi ước vọng của tác giả đã được thực hiện trong đời, như lời thơ của chính tác giả viết

Yêu thơ tôi mộng tôi mơ
Mơ thành thi sĩ làm thơ tặng người...


Và cuối đời tác giả tìm được sự an bình khi đến với Tôn Giáo.

Bao đêm khấn nguyện Di Đà
Giúp gương trí tuệ đánh tà đuổi ma
Tà ma nay đã lìa xa
Thâm tâm bình lặng lòng ta nhẹ nhàng


Có ai biết đến chị không ? nhưng riêng tôi , tôi vẫn nhìn chị như tấm gương sáng từ tâm hồn cho đến cung cách sống của một người nữ lưu đang trong lứa tuổi về chiều . VDN vẫn mãi là một đoá hồng nở rực với thời gian, cho dù cũng có lúc bị gió mưa dập vùi..

Xin cho những tháng ngày còn lại đầy nắng ấm và mây nước hiền hoà để đóa hồng vẫn luôn nở rộ cho đời thêm sắc, thêm hương...

Miên Thụy
06July07

http://www.mienthuy.com/




Vươn Lên Từ Thảm Cảnh

Trang Nguyễn

Vượt lên thảm cảnh của gia đinh với trách nhiệm nuôi năm người em ăn học, một cô gái Việt đã để lại nhiều ấn tượng và sự nể phục của bạn bè khi vừa nhận bằng tốt nghiệp Trường đại học Berkeley.

Người đầu tiên trong gia đình tốt nghiệp đại học.

Đây chính là giây phút chờ đợi của cô Trang Nguyen, 23 tuổi: được công nhận tốt nghiệp Trường đại học Berkeley của tiểu bang California, Hoa Kỳ và là người đầu tiên trong gia đình tốt nghiệp đại học.

Cha mẹ cô Trang Nguyen đã từ Việt Nam tị nạn sang California sau 1975, nhằm mục đích đem lại cho sáu đứa con của họ một đời sống tốt đẹp hơn. Cô Trang Nguyen có được mảnh bằng đại học qua quá trình học tập tại Hoa Kỳ nhưng đây cũng là những phút giây ngọt ngào pha lẫn với niềm cay đắng. Cô Trang Nguyen nói: “Tôi ước gì cha mẹ tôi có mặt tại nơi đây, nhưng dù họ đã ở một nơi xa thì tôi vẫn biết là cha mẹ luôn phù hộ cho tôi. Gần bốn năm về trước tôi đã trải qua một sự kiện khó khăn nhất chưa từng có trong cuộc đời. Tôi đã mất cha mẹ và phải nuôi dưỡng năm đứa em ruột mà tôi không biết phải dựa vào đâu để làm được việc này”.

Cha mẹ của Trang Nguyen đã bị sát hại vào ngày 25.07.2003 trong một vụ cướp tiệm vàng nơi họ làm việc tại Sacramento. Vào lúc đó cô Trang Nguyen mới 20 tuổi và là sinh viên năm thứ hai của Trường đại học Berkeley. Trang Nguyen còn nhớ là đã nhận được cú điện thoại báo tin cha mẹ cô bị bắn. Cô điên cuồng lái xe đến tiệm vàng ở Sacramento, vừa dùng điện thoại di động để muốn biết thêm chi tiết và khi đến nơi côì nhìn thấy các em mình đang kêu khóc. Một thảm cảnh không thể chịu đựng nổi.

Văn phòng cảnh sát quận Sacramento đã phổ biến bảng phác họa chân dung kẻ sát nhân. Nhưng gần bốn năm qua vẫn chưa bắt được tên này. Cô Trang Nguyen nói: “Khi tôi và các em về đến nhà, chúng tôi tự khóa mình trong phòng của cha mẹ tôi và khóc vùi cho đến khi ngủ thiếp đi”.

Cô Trang Nguyen đã sáng tác một ca khúc để tưởng niệm cha mẹ cô và ghi âm nó vào CD. Cô đã tiến về phía trước cùng những đứa em trai và em gái của mình để làm rạng danh cho cha mẹ cô và họ đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ. Cô Trang Nguyen nói: “May mắn thay, tôi có được một số người đã đến với cuộc đời tôi, họ tin tưởng tôi, đặt niềm tin vào tôi, khuyến khích tôi. Và người giúp đỡ tôi nhiều nhất đang ngồi tại bàn này, đó là cô Marjorie.

Quyết không phụ lòng kỳ vọng của cha mẹ

Người dìu dắt cô Trang Nguyen tại Trường đại học Berkeley, cô giáo Marjorie Weingrow, đã giúp cô đi đúng hướng của cuộc đời và cô đã giúp các em cô làm đúng như vậy. Cô Trang Nguyen nói là cô không thể hoàn thành trách nhiệm nếu như không có cô Marjorie Weingrow, người phụ trách chương trình SAGE, cùng với trường đại học giúp đỡ cho cô. Cô Marjorie Weingrow, phụ trách chương trình SAGE nói: “Nhà trường đã cung cấp nhà ở gia đình cho sinh viên Trang Nguyen và điều này rất là tiện lợi vì họ có thể sống chung với nhau trong ba căn phòng. Trang Nguyen đã an tâm vì các em cô đều được đến trường và cô cố gắng theo đuổi việc học đại học. Nay thì cô tốt nghiệp đã với rất nhiều cơ hội để đảm bảo cuộc sống gia đình”.

Vượt lên nỗi đau, Trang đã hoàn thành được kỳ vọng của ba mẹ.

Cô Marjorie Weingrow đã phụ trách chương trình SAGE tại Trường đại học Berkeley từ 8 năm nay. SAGE giúp sinh viên được thành công nhờ vào kinh nghiệm. Đây là một chương trình bao gồm chế độ nội trú tại các cơ sở thương nghiệp nổi bật trong vùng Vịnh California, cung cấp một chương trình đào tạo khả năng lãnh đạo cho các sinh viên xuất sắc có hoàn cảnh khó khăn. Cô Marjorie Weingrownói: “Các sinh viên làm việc với các người hướng dẫn của họ. Chúng tôi cho họ theo học các lớp về nghề nghiệp và phát triển năng khiếu tại Trường thương nghiệp Haas. Chúng tôi cũng làm việc với các nhà lãnh đạo thương nghiệp trong tất cả mọi lĩnh vực nhằm giúp các sinh viên phát triển tính nhạy bén của họ trong thương trường”. Cô Trang Nguyen nói thêm: “Không phải chỉ có như thế mà còn phải biết giới thiệu cũng như có năng khiếu giao tế. Đối với tôi, việc thực hành và giới thiệu bản thân không thành vấn đề”.

Cô Trang Nguyen và các bạn của cô trong chương trình SAGE hiện nay rất sáng chói và tự tin. Họ đã có sự lựa chọn của họ trong rất nhiều cơ hội. Cô Trang Nguyen sẽ bắt đầu làm việc toàn thời gian tại Ngân hàng Wells Fargo vào mùa hè này và cô biết chắc là cha mẹ cô sẽ rất hãnh diện về cô.

Thứ Hai, 25 tháng 6, 2007

Ý Thức Cộng Đồng và Số Phận Cá Nhân (Nhìn Lại Bi Kịch của Chí Phèo)


Sinh 1972, Nguyễn Thị Từ Huy thuộc thế hệ phê bình trẻ của Việt Nam hôm nay.

Trước hết, cần xuất phát từ việc nhìn lại cấu trúc thời gian và kết cấu của truyện ngắn này.

Tác phẩm mở đầu bằng cái buổi chiều Chí Phèo uống say và lên cơn chửi. Buổi chiều đó kéo dài qua những đoạn hồi cố nhằm dựng lại cuộc đời Chí, trượt xuống thành buổi tối khi cái bóng xệch xạc dưới trăng làm hắn quên ý định báo thù, nảy sinh từ sự vô vọng của tiếng chửi, và rẽ vào nhà Tự Lãng. Sau cuộc rượu với kẻ tri kỷ cuồng, đêm đó hắn gặp kẻ tri âm của đời mình: Thị Nở. Sáng hôm sau hắn tỉnh, không chỉ là tỉnh khỏi giấc ngủ đêm hôm trước, mà tỉnh khỏi cơn say mênh mông suốt đời hắn, tỉnh khỏi kiếp sống sinh vật, kiếp quỷ dữ. Hắn buồn và hồi tưởng lại những mơ ước thuở xa xưa. Hắn ốm, bát cháo hành của Thị Nở mang lại cho hắn sinh lực, hạnh phúc và hy vọng về tương lai. Hắn tìm thấy lại ý nghĩa của cuộc đời, muốn làm hoà với mọi người.

Thời điểm đó, vào cái buổi sáng hôm đó, hắn hoàn toàn không còn là Chí Phèo trước đây nữa. Hắn đã là một ý thức đầy đủ về giá trị và thân phận của mình. Và năm ngày tiếp theo, quãng thời gian sống trong tình yêu với Thị Nở, hắn đã làm một người lương thiện thực sự. Câu chuyện về Chí dừng lại ở cái buổi trưa ngày thứ sáu, sau khi bị Thị Nở chối từ, Chí Phèo giết Bá Kiến và tự vẫn. Nhưng tác phẩm chỉ thực sự kết thúc với những lời bàn tán xì xầm của làng Vũ Đại và thái độ của Thị Nở một ngày sau khi Chí chết.

Như vậy, Chí Phèo - con quỷ dữ và quá trình biến thành quỷ dữ đã thuộc về quá khứ, còn hiện tại của câu chuyện được mở ra từ cái thời điểm khởi đầu cho sự hồi sinh của Chí, cũng là khởi đầu cho một kết thúc đau đớn sẽ đến kề ngay sau đó.

Do vậy, quá trình lưu manh hoá người nông dân và trách nhiệm của cái nghèo trong việc huỷ hoại nhân cách họ sẽ dễ dàng bị gạt sang một bên khi chúng ta bàn đến nhiệm vụ nghệ thuật cơ bản của tác phẩm. Còn lại, những vấn đề: bi kịch của con người bị từ chối quyền làm người, bi kịch của con người với môi trường thiếu nhân tính, khát vọng đổi đời, khát vọng hoàn lương, vấn đề quyền sống...tất cả có lẽ đều liên quan đến cái chết và câu hỏi của Chí: "Ai cho tao lương thiện?"

Ai cho Chí Phèo làm người lương thiện? Câu hỏi này xưa nay vốn đã tưởng tìm thấy câu trả lời chính xác và dứt điểm ở các thế lực là cơ chế xã hội, cường hào ác bá và định kiến xã hội. Thực ra câu trả lời không hoàn toàn đơn giản như vậy. Tính chất phức tạp là ở chỗ câu hỏi đó đáng ra trước tiên Chí Phèo phải tự đặt ra cho mình chứ không phải cho Bá Kiến. Chí Phèo không chỉ là bi kịch của con người bị từ chối quyền làm người, hơn thế còn là bi kịch của con người tự từ chối quyền làm người. Anh ta phải chịu một phần trách nhiệm về cái chết của mình, một cái chết không hoàn toàn nâng cao anh ta, mà ở một khía cạnh khác, còn cho thấy sự bất lực của anh ta.

Là một nghệ sĩ chân chính, Nam Cao đã nhìn thấy những nguy cơ ẩn giấu trong cái đặc tính vốn từng làm nên sức mạnh của dân tộc: ý thức cộng đồng.

Thời đại Nam Cao, ý thức về con người cá nhân có điều kiện phát triển. Các nhà thơ mới công nhiên phô bày, khẳng định cái tôi cá nhân. Văn học lãng mạn đòi giải phóng cá nhân bằng cách đưa ra những mẫu người có bản lĩnh, dám đối lập với toàn bộ xã hội, dám bảo vệ cá tính riêng, chấp nhận đơn độc trong những lựa chọn của mình. Nam Cao lặng lẽ ủng hộ cuộc đấu tranh đó bằng một cách khác, bằng cách chỉ ra rằng: nếu quá lệ thuộc vào cộng đồng, con người sẽ tự thủ tiêu mình; và nếu cộng đồng cho phép mình can thiệp quá sâu vào đời sống của mỗi cá nhân, nó sẽ huỷ diệt cá nhân đó.

Chí Phèo thực chất là bi kịch về sự yếu đuối của cá nhân trước sức mạnh của ý thức cộng đồng. Ý thức này vừa là áp lực bên ngoài vừa là một phần trong thẳm sâu con người Chí, nó khiến Chí bị khuất phục trước cuộc sống.

1. Từ nỗi sợ cô đơn....


Ngay đoạn mở đầu truyện, Nam Cao đã triệt để bóc trần cái đời bị loại trừ một cách tuyệt đối của Chí Phèo, thân phận bị bỏ rơi, quan hệ giữa hắn với cộng đồng, nỗi khốn khổ, sự cô độc mà hắn phải gánh chịu. Tiếng chửi xác định thế đối lập của hắn với toàn bộ xã hội, toàn bộ nhân thế và toàn bộ vũ trụ. Sự thu hẹp dần phạm vi đối tượng chửi (hắn chửi trời, chửi đời, chửi tất cả làng Vũ Đại, chửi những đứa nào không chửi nhau với hắn, và cuối cùng chửi đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn) bộc lộ tình thế bi đát của một cá nhân bị cô lập. Bị chính những người đẻ ra bỏ rơi, Chí Phèo chỉ còn mối liên hệ duy nhất với cộng đồng làng Vũ Đại, chính cộng đồng đó đã cho hắn cơ hội trưởng thành, dù là với thân phận đi ở. Nhưng sau khi ở tù về, mối liên hệ ấy đã hoàn toàn bị cắt đứt. Quan hệ của Chí với cộng đồng, từ đó được thiết lập trên sự đe doạ, cướp giật, hắn dùng sức mạnh để áp chế, cưỡng bức cộng đồng phải chịu hắn. Và Chí Phèo, mặc dầu trong cơn say triền miên vô tận, không ý thức được những việc mình làm ("hắn đâu biết hắn đã phá bao nhiêu cơ nghiệp, đập nát bao nhiêu cảnh yên vui, đạp đổ bao nhiêu hạnh phúc...Hắn đâu biết vì hắn làm tất cả những việc ấy trong khi người hắn say") (tr.38) vẫn không thể chấp nhận được tình trạng bị bỏ rơi, hắn vẫn muốn được là thành viên của cộng đồng, ý thức ấy đã ăn sâu vào máu hắn.

Trong nỗi sợ cô đơn, hắn tìm cách xác lập lại mối liên hệ đã bị cắt đứt bằng những phương thức giao tiếp tuyệt vọng: la làng, ăn vạ, chửi.

La làng là một phản ứng quen thuộc khi một người gặp nguy hiểm, cần sự trợ giúp của cộng đồng. Khi ăn vạ, người ta cũng la làng để tìm sự ủng hộ ngầm và để làm mất mặt người bị ăn vạ (người ta chỉ mất mặt khi nhược điểm của mình bị bóc trần trước mắt những người khác, từ quan niệm này nảy sinh thói sĩ diện hão, tin rằng những đánh giá của cộng đồng làm nên nhân cách của mình) nhằm dễ dàng phạt vạ người đó. Chí Phèo kêu làng không phải để tìm sự trợ giúp mà tìm sự đồng loã. Hắn cần được chứng kiến, cần được thể hiện sự tồn tại của mình trước mọi người. Đó là điều mà Thị Nở đã không hiểu được khi hắn vừa dằn thị xuống vừa kêu làng. Trong vô thức hắn sợ cô đơn đến mức, ngay cả trong hành động riêng tư nhất có thể hắn cũng muốn có sự chứng kiến của người khác. Chi tiết này của Nam Cao cho phép liên tưởng đến Kafka. Ở phương Tây, những năm hai mươi, trong thế giới của Kafka, cô đơn là "giá trị quý báu nhất đang bị nghiền nát bởi cái áp đảo hiện diện ở khắp nơi"1. Nguy cơ của con người là ở chỗ cái riêng tư không còn được bảo vệ khi anh chàng K. lúc nào cũng bị hai phái viên của lâu đài cặp kè, cả trong lúc ngủ với vợ. "Sự cô đơn bị cưỡng hiếp" 2 làm nên sức ám ảnh cho tác phẩm của Kafka. Sau đó hai thập kỷ, ở Việt Nam, trong thế giới Nam Cao, cô đơn là thứ đáng sợ nhất đối với anh Chí làng Vũ Đại. Chí bám vào cộng đồng như bám vào một chiếc phao cứ lạnh lùng tuột khỏi tay Chí.

Dân làng thực ra đã tạo nên một sức mạnh hậu thuẫn cho hắn trong những lần đòi nợ Bá Kiến: "vả lại những người đứng xem đã về cả rồi, hắn thấy hắn hình như trơ trọi. Cái sợ cố hữu trong lòng thức dậy, cái sợ xa xôi thủa ngày xưa...(tr.27)ï. Con quỷ dữ của làng Vũ Đại đã phải lấy sức mạnh từ bên ngoài và từ sự mê hoặc của rượu.

Chửi là một hình thức gây hấn với người khác hoặc là một phương thức trả thù của kẻ yếu. Với Chí Phèo, chửi là để mong có được sự hồi đáp từ phía cái cộng đồng mà hắn đã không còn có thể trò chuyện được nữa. Hắn chửi vì hắn sợ phải im lặng và sợ sự im lặng của người khác. Giá hắn biết hát thì có lẽ hắn không cần chửi (tr.38). Hắn hẳn đã hy vọng rằng bằng cách đó không cho phép người khác lảng tránh mình.

Tuy vậy những phương thức giao tiếp ấy đã bị lạm dụng đến mức chúng trở nên vô nghĩa đối với dân làng Vũ Đại. Người ta không còn quan tâm đến những nỗ lực tuyệt vọng của Chí nữa. Bản thân hắn cũng không ý thức được tính chất tuyệt vọng trong những hành động của mình, cho đến cái buổi chiều được Nam Cao chọn làm điểm khởi đầu cho câu chuyện. Hắn đã thất bại hoàn toàn với "ângón" chửi. Quan trọng hơn, hắn cảm nhận được sự thất bại ấy. Với hắn đó là một mối thù lớn. Mối thù bị loại bỏ. Và tất cả những ai không đếm xỉa đến hắn đều là kẻ thù của hắn, đều phải chịu trách nhiệm về sự cô độc của hắn, nghĩa là tất cả mọi người. Do vậy mà hắn phải "âbáo thù vào bất cứ ai. Hắn phải vào nhà nào mới được, bất cứ nhà nào. Hắn sẽ rẽ vào bất cứ ngõ nào hắn gặp để đập phá đốt nhà hay lăn ra kêu làng nước. Phải đấy, hắn sẽ rẽ vào bất cứ cái ngõ nào hắn gặp...(tr.38)". Hắn không cần biết một nhà nào hay một người nào cụ thể. Những hành động "âtrả thù" mà hắn toan tính thực ra đều nhằm mục đích gây chú ý cho mọi người. Thế nên khi nhìn thấy cái bóng1 quần quật dưới chân mình, khi thấy mình không còn quá lẻ loi nữa, hắn đã lập tức quên ý định báo thù, bù vào đó, hắn đã có một "cuộc nhậu đẹp" với kẻ "tri kỷ" Tự Lãng, một kẻ cũng đơn độc gần bằng hắn. Vì thế, khi Tự Lãng đã say bò ra và hỏi: "người ta đứng lên bằng cái gì?" thì Chí Phèo vần ngửa lão ra, để mặc lão thế rồi lảo đảo ra về. Những kẻ như lão chỉ có thể đứng lên với sự nâng đỡ của người khác. Mà Chí thì không thể nâng lão đứng dậy được vì chính hắn còn thảm hại hơn lão, hắn cũng đang cần một người giúp đỡ. Người đó là Thị Nở. "Nhưng hắn đứng lên làm sao được. Thị quàng tay vào nách hắn, đỡ cho hắn gượng ngồi. Rồi thị kéo hắn đứng lên. Hắn đu vào cổ thị, hai người lảo đảo đi về lều" (tr.45)". Chí Phèo đã đứng lên như vậy. Rồi tiếp theo đó, hắn tỉnh.

Nỗi sợ cô đơn được Chí nhận thức một cách đầy đủ sau khi tỉnh. "Tỉnh dậy hắn thấy hắn già mà vẫn còn cô độc. Buồn thay cho đời! (...) Chí Phèo hình như đã trông thấy trước tuổi già của hắn, đói rét và ốm đau, và cô độc, cái này còn đáng sợ hơn đói rét và ốm đau"ï(tr.46). Có thể hiểu buổi chiều và buổi tối hôm Chí gặp Thị Nở (một cái mốc quan trọng trong đời Chí, điều này không cần phải bàn cãi nữa!) là sự kết thúc cho giai đoạn quỷ dữ. Và buổi sáng hôm sau chính là điểm khởi đầu của một giai đoạn mới- giai đoạn làm người. Biểu hiện đầu tiên của tính người trong Chí, đấy là nỗi buồn và cảm giác cô độc. Nỗi buồn giúp hắn cảm nhận cuộc sống trong sự mới mẻ, hấp dẫn và gợi lại mơ ước xa xưa về một mái ấm bé nhỏ. Cảm giác cô độc cho hắn hình dung trước những bất trắc đang chờ đón khi hắn đã ở cái dốc bên kia của đời. Và hắn sợ.

Người nông dân Việt Nam ít có mặc cảm cô đơn, vì họ gắn bó khăng khít với họ hàng, tông tộc, bà con, xóm giềng, đất nước, những cộng đồng lớn nhỏ xung quanh họ. Người Việt rất chú trọng đến sức mạnh của tình đoàn kết, tinh thần đùm bọc cưu mang lẫn nhau. Họ không thích sự nổi trội đặc biệt của một cá nhân nào đó, vượt hơn hẳn so với những người còn lại ( trừ phi cá nhân đó có một tầm vóc lớn hơn hẳn hoặc đã được thánh hoá). "Xấu đều còn hơn tốt lõi"ï. Họ muốn hoà lẫn vào người khác. Hạnh phúc của họ chính là một cuộc sống ổn định hoà hợp với mọi người xung quanh. Bát cháo hành của Thị Nở đối với Chí vô cùng thơm ngon vì nó giúp hắn cảm nhận một cách sâu sắc hương vị của sự chia sẻ, giúp hắn hiểu thế nào là được người khác cho, được quan tâm chăm sóc. "Bởi vì lần thứ nhất hắn được một người đàn bà cho" (tr.47). Cho chính là biểu hiện cao nhất của sự san sẻ, đùm bọc, điều mà Chí rất cần và rất thiếu.

Bát cháo hành Thị Nở trong cảm nhận của Chí không chỉ được xem như bằng chứng của tình yêu mà còn là dấu hiệu của tình làng nghĩa xóm. Chí không dừng lại ở mơ ước về một gia đình êm ấm với Thị Nở. Hắn còn mơ đến việc tìm được bạn, tìm được một chỗ trong cộng đồng. "Vì thế mà bát cháo hành của Thị Nở làm hắn suy nghĩ nhiều. Hắn có thể tìm bạn được, sao lại gây kẻ thù? (tr.48). "Trời ơi, hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hoà với mọi người biết bao! Thị Nở sẽ mở đường cho hắn. Thị có thể sống yên ổn với hắn thì sao mọi người lại không thể được. Họ sẽ nhận lại hắn vào cái xã hội bằng phẳng lương thiện của những người lương thiện... (tr.49)".

Chí không mong điều gì khác ngoài sự hoà hợp với mọi người. Hắn đã nghĩ một cách đơn giản rằng Thị Nở có thể giúp hắn bước vào thế giới lương thiện. Chỉ khi được mọi người chấp nhận, Chí mới thực sự cảm thấy là một người lương thiện đúng nghĩa.

2....đến cái chết như một cô đơn tuyệt đối.


Thực ra, cuộc đời Chí Phèo có thể kết thúc theo ba hướng: hoặc tiếp tục sống làm con quỷ làng Vũ Đại, hoặc bảo vệ con người mới của mình bằng cách bỏ làng ra đi tìm đến một vùng đất mới, hoặc là chết để làm ma của làng, nhưng là một con ma lương thiện. Nam Cao đã chọn cách thứ ba, vì tất yếu Chí phải hành động như thế.

Thị Nở và bát cháo hành đã biến bản năng muốn gia nhập cộng đồng của Chí (tiềm ẩn trong các hành động chửi, la làng, ăn vạ) thành một ý thức đầy đủ và mãnh liệt. Sở dĩ Chí Phèo có thể tồn tại ở làng như vậy cho đến nửa đời người là vì lúc nào hắn cũng say. "Chưa bao giờ hắn tỉnh để nhớ rằng có hắn ở đời". Và khi hắn tỉnh, khi hắn biết rằng có hắn ở đời thì cũng liền ngay đó hắn hiểu rằng đời không thể có hắn được. Nhưng hắn cũng không còn có thể say lại để quên đi tất cả, để không biết gì như trước đây nữa. Trong tất cả những thứ mà lần đầu tiên Chí được hưởng thụ vào năm ngày cuối cùng của đời mình, chỉ duy nhất hơi cháo hành là thứ hắn cảm nhận được, là thứ ám ảnh hắn lúc tuyệt vọng, lúc mọi thứ tuột khỏi tay hắn. Hơi cháo hành như mùi vị của hạnh phúc thoáng qua giờ đã trở nên không có thực, và vĩnh viễn không bao giờ có thực nữa. Đó là một chút tình mong manh nhưng dai dẳng không thể dứt bỏ nổi. Hắn không thể sống, dù ở làng Vũ Đại hay ở nơi khác, mà thiếu nó được. "Hắn cứ thoang thoảng thấy hơi cháo hành. Hắn ôm mặt khóc rưng rức" (tr.52). Vì hơi cháo hành mà lần đầu tiên trong đời hắn khóc, tiếng khóc của một con người nuối tiếc cái hạnh phúc không phải để cho mình nhưng lẽ ra mình có thể được hưởng. Tiếng chửi cuối cùng của Chí không còn là một thứ phương tiện giao tiếp nữa. Đó là tiếng lảm nhảm tuyệt vọng của kẻ đã nhìn thấy trước tương lai duy nhất dành cho mình: Cái Chết.

Ai là kẻ phải chịu trách nhiệm về cái chết của Chí? Bá Kiến, đại diện cho bọn cường hào ác bá, thế lực bức hại người lao động? Bà cô Thị Nở, đại diện cho cái xã hội của những người lương thiện với định kiến hẹp hòi? Hay chính Chí Phèo với sự yếu đuối của một nhân cách quá lệ thuộc vào cộng đồng?

Đương nhiên Bá Kiến là kẻ trực tiếp đẩy Chí sa ngã. Và Chí đáng lẽ phải thù oán Bá Kiến, lại khiến cho dân làng Vũ Đại oán thù và tẩy chay đến không còn cơ hội để quay trở lại với họ nữa.

Trong thế giới của Nam Cao, Chí Phèo không phải là kẻ duy nhất sống ngoài lề xã hội. Chí có những người anh em cùng chung cảnh ngộ bị cô lập, như Đức trong Nửa Đêm, Lang Rận trong truyện ngắn cùng tên, có thể kể thêm Cu Lộ trong Tư Cách Mõ... ở một môi trường mà thái độ của những người khác góp phần tạo nên nhân cách phẩm giá của một người, thậm chí có thể quyết định chuyện sống chết của người đó thì phản ứng của Chí Phèo cũng không khó giải thích. Trong Nửa Đêm, sau khi cho độc giả chứng kiến cảnh một đứa bé vô tội bị tẩy chay vì những tội lỗi của bố nó, Nam Cao đã viết: "Thì ra những người rất hiền lành cũng có thể là những người rất ác. Có điều họ không có cách để làm ác". (Tuyển Tập Nam Cao, sđd, tập 1, tr.73). Thực ra họ cũng có cách để làm ác, khi họ không chấp nhận sự vô tội của một người vô tội, không thừa nhận sự phục thiện của một người muốn phục thiện, không chấp nhận hạnh phúc của người khác. Nam Cao có xây dựng một loại nhân vật không muốn cho người khác được sung sướng (ông có hẳn truyện Nhìn Người Ta Sung Sướng kể về một bà già rất khó chịu mỗi khi vợ chồng con gái mình có những biểu hiện hạnh phúc, và bà nhất định sẽ bắt cô cháu dâu tương lai hầu mình đủ mười bốn năm mới thôi, quyết không cho cô ấy sung sướng ngay với cháu trai mình). Bà cô Thị Nở cũng thuộc loại này. Bà phản đối cuộc hôn nhân của cháu gái trước hết vì bà nhục cho ông cha bà, sau đó là vì bà tủi cho thân bà, uất ức cho cái đời không chồng của bà. Bà đố kỵ ngay với đứa cháu bất hạnh. Bà không có hạnh phúc, vậy thì cháu gái bà cũng đừng hòng mong điều đó.

Nam Cao không ngại phơi bày những hủ tục, những thói tật kìm hãm sự phát triển của con người, ngăn cản con người sống hạnh phúc. Những day dứt của ông được phát biểu qua lời của nhân vật Thứ trong tiểu thuyết Sống Mòn: "Đó là tại thói quen. Không phải cái thói quen của riêng mình, nhưng là cái thói quen lưu truyền đã mấy đời, đến nỗi nó nhập vào máu chúng ta. Tư tưởng, tính tình, cảm giác, hành động của chúng ta đều khuôn theo những thói tục. Những lề lối sẵn trong thời đại chúng ta. Thời thế thay đổi, lòng người đổi. Thế kỷ sau sẽ lọc máu cho chúng ta trong trẻo lại. Y thở dài nghĩ bụng nhưng tại sao ta lại không thể nghĩ chuyện lọc máu ngay từ bây giờ" *1.

Tham vọng của Nam Cao là muốn lọc máu cho cả dân tộc. Nam Cao đã khám phá ra những gì mà mỗi chúng ta không muốn để lộ ra. Ông giúp con người tự nhìn vào tận sâu trong tâm hồn mình để hiểu mình một cách thấu đáo hơn và có đủ can đảm để thay máu. Chỉ cần như thế, ông đã hoàn thành xuất sắc cái sứ mệnh nhà văn mà ông đã từng nêu ra đây đó trong các tác phẩm của mình.

Dấu hiệu hiện đại của tác phẩm Nam Cao biểu hiện ở ranh giới thiện ác giờ đây không còn quá rành mạch nữa. Những người lương thiện ở làng Vũ Đại sẽ tự đánh giá về mình ra sao khi chính họ là nguyên nhân dẫn đến cái chết của một con người. Điều bi đát là bản thân họ không thể ý thức được, không thể hình dung nổi điều đó.

Không ai được chứng kiến cuộc đối thoại giữa Chí Phèo và Bá Kiến, lúc Chí Phèo bộc lộ sự kiêu hãnh của một con người đã tự lấy lại phẩm giá. Cuộc đối thoại đó là cuộc đối thoại có giá trị nhất trong đời Chí, là điều mà ắt hẳn Chí muốn được mọi người biết đến. Không phải ngẫu nhiên mà Nam Cao đã để cho cả nhà Bá Kiến hôm đó đi vắng, chỉ mình cụ Bá ở nhà. Cuộc đối thoại đòi quyền làm người, trong thực tế, đã chìm lỉm vào hư vô. Và hắn la làng, cách giao tiếp quen thuộc của hắn, nhưng bi đát thay, cũng như xưa nay, khi hắn kêu làng, không bao giờ người ta vội đến. Vì vậy, lúc dân làng có mặt thì tất cả đã kết thúc. Họ chỉ thấy sự việc mà không bao giờ biết được nguyên nhân đích thực của nó. Chí Phèo hiểu rằng dù hắn có tu tỉnh thì cái quá khứ của hắn cũng không cho phép hắn trở thành người lương thiện giữa mọi người, hắn sẽ không được họ chấp nhận. Hắn muốn dùng cái chết của mình để chiêu tuyết cho đoạn đời tội lỗi trước kia và rung một tiếng chuông cảnh tỉnh cho sự khắt khe của dư luận. Nhưng ước vọng của Chí đã theo hắn và Bá Kiến xuống mồ. Đó là một bí mật trọn vẹn đối với người dân làng Vũ Đại. Tội nghiệp Chí Phèo, "mồm hắn ngáp ngáp, muốn nói nhưng không ra tiếng". Những điều mà Chí muốn nói với dân làng, với cái xã hội của những người lương thiện không bao giờ còn được nói ra nữa. Họ không bao giờ biết đến cái mong ước làm người lương thiện của Chí. Họ cũng không bao giờ biết được rằng chính họ có thể cho Chí một cơ hội, rằng chính họ đã có thể cứu vớt một linh hồn, rằng chính họ đã phê duyệt vào cái án tử hình của Chí.

Bi kịch của Chí ở đây là bi kịch của một giá trị không được biết đến, không được thừa nhận, không được thấu hiểu. Chí đã chết một cái chết vô ích. Cái chết đó thực sự vô nghĩa khi người ta xếp Chí cùng hàng với Bá Kiến "Thằng nào chứ hai thằng ấy chết thì không ai tiếc! Rõ thật bọn chúng nó giết nhau"(tr.54). Câu chuyện không kết thúc bằng cái chết của Chí mà kết thúc bằng sự đánh giá của cộng đồng về cái chết ấy. Chính với cách kết thúc như vậy, Nam Cao đã đẩy Chí tới tận cùng nỗi bất hạnh. Trong những lời bàn tán của người dân làng Vũ Đại người ta nhắc đến Bá Kiến nhiều hơn là Chí Phèo. Và sự đánh giá mà người đời dành cho Chí hoàn toàn ngược với cái mong muốn mà vì nó hắn đã phải trả giá bằng cả tính mệnh (Chí Phèo hẳn cũng muốn để lại tiếng thơm!). Thay vì thấu hiểu và chia sẻ, người ta đã vui mừng, thoả mãn. Những giông bão trong tâm hồn Chí thực sự chẳng để lại một dấu vết nào trên cái làng êm ả đó. Thậm chí cả Thị Nở là người duy nhất có thể cảm thông và thấy được bản tính hiền lành của Chí "Sao có lúc nó hiền như đất" (tr.54), cũng không hiểu được khát vọng làm người trong hắn. Chí Phèo không có Chúa làm kẻ chứng nhân vô hình cho sự thức tỉnh linh hồn. Chí Phèo là một cô độc tuyệt đối, điều mà hắn sợ nhất trên đời. Vào thế kỷ XVI, lúc mà ở phương Tây, con người cá nhân đang trên đường hình thành, Montaigne có nói: "Điều lớn nhất trên thế giới, đó là biết thuộc về chính mình (...). Không nên trao mình cho người khác mà chỉ trao mình cho chính mình mà thôi". (Essais, 1580. Trích theo Lịch Sử Cá Nhân Luận, Alain Laurent, NXB Thế giới, 2001, tr.39-40). Chí Phèo, bằng cái chết, đã trao mình cho người khác, mà tiếc thay, đã không được đón nhận.

Trở lại với cuộc đối thoại giữa Chí và Bá Kiến, cần lưu ý rằng Chí Phèo chỉ có thể dõng dạc tuyên bố: "Tao muốn làm người lương thiện!". Hắn không thể kiêu ngạo mà thông báo rằng: "Ta đã là người lương thiện", mặc dù trong thực tế đúng là như vậy, hắn đã hoàn toàn thay đổi trong những ngày sống chung với Thị Nở. Hắn không đủ tự do để tự biến mình thành người lương thiện và tự hào về hành động của mình, và cũng không đủ mạnh để dám trả giá cho việc làm người lương thiện. Hắn chết vì thấy rằng không ai cho hắn lương thiện. "Ai cho tao lương thiện?". Vậy ra sự lương thiện của hắn lại phụ thuộc vào người khác chứ không phải vào chính bản thân hắn!!!

Chí Phèo đã không thể hình dung rằng người ta vẫn có thể lương thiện mà không cần được cho phép, không cần được dung nạp. Chí đã không thể cứ lặng lẽ làm một người lương thiện ngoài lề xã hội. Chí Phèo chưa thể hiểu được bản thân giá trị của cá nhân Chí có thể đặt ngang cân với toàn bộ xã hội còn lại. Bị chi phối bởi ý thức cộng đồng, Chí tuyệt đối tin là nhân cách của mình phụ thuộc vào sự đánh giá của cộng đồng về mình, tin rằng thái độ che chở đùm bọc của người khác cấp cho hắn một thân phận và sự đánh giá của người khác cấp cho hắn một diện mạo1. Chí đã đồng nhất lương thiện với việc làm hoà với mọi người.

Chí Phèo không có được cái bản lĩnh của một người mang trong nó sức mạnh cá nhân và sức mạnh của một trình độ học vấn đủ để anh ta muốn khẳng định giá trị riêng của mình. Bản lĩnh của Chí Phèo là dám chết khi không còn có thể tiếp tục phạm tội nhưng lại không thể làm một thành viên của xã hội lương thiện. Bản lĩnh đó là chỗ mạnh nhưng đồng thời cũng là chỗ yếu đuối của Chí. Sự khinh bỉ của những người lương thiện đã giết chết Chí Phèo, đã giết chết Lang Rận, đã làm cho Đức phát điên. Nhân vật của Nam Cao chọn cái chết để tránh nỗi nhục nhã trước sự khinh bỉ của người khác và để tránh, điều này thật phi lý, việc mình trở thành nỗi nhục của người khác.

Hành động chết của Chí không phải là một hành động tự do theo cái nghĩa là Chí đã tự do quyết định số phận của mình. Cái chết ấy có thể xem như một nỗ lực cuối cùng để tìm cách hoà nhập cộng đồng. Sự hoán cải thực sự có thể biến Chí thành một người lương thiện nhưng chưa thể biến Chí thành một nhân cách tự chủ. Và, theo Nam Cao, không có một nhân cách tự chủ thì không thể sống mà làm người lương thiện được.

Nam Cao đau xót trước một thực tế: áp lực của dư luận xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến nhân cách của con người. Trong Tư Cách Mõ ông đã nói: "Hỡi ôi! Thì ra lòng khinh trọng của chúng ta có ảnh hưởng đến cái nhân cách của người khác nhiều lắm; nhiều người không biết gì là tự trọng, chỉ vì không được ai trọng cả; làm nhục người là một cách rất diệu để người sinh đê tiện..."(Tuyển Tập Nam Cao, sđd, tập 1, tr.203). Dư luận xã hội thường thiên kiến, tàn nhẫn, vô tình. Và một khi ý thức cá nhân còn chưa phát triển ở mức độ cao, thì ý thức cộng đồng còn có thể phát huy cái sức mạnh vô giới hạn của nó.

Chí Phèo cho ta thấy một cá nhân có thể bị nghiền nát dưới sức mạnh của ý thức cộng đồng như thế nào. Chí Phèo đã tuyệt vọng hướng tới một giá trị không thể gọi tên. Nếu ta đi tìm định nghĩa về sự lương thiện thì đây, câu trả lời của Chí: Lương thiện là được người khác chấp nhận. Đó không thể là chuẩn mực của một giá trị. Cái chết của Chí, do vậy, là một thất bại hơn là một chiến thắng của tính thiện, của khát vọng hoàn lương. Bằng sự thất bại của Chí (và cùng với Chí là sự thất bại của của Đức, Dì Hảo, của Nhu1, của Lang Rận2, cu Lộ...), Nam Cao muốn người nông dân Việt Nam có ý thức sâu sắc về những vấn đề của mình, và đối mặt với chúng để vượt qua chúng. Song, hơn nửa thế kỷ qua, niềm mong mỏi của ông đã được đáp ứng ở mức độ nào?

Chủ nghĩa hiện thực Nam Cao nếu có một chiều sâu thì đó là khả năng chạm tới đáy thẳm của ý thức cộng đồng. Chạm tới nó để cảnh báo về sự nguy hiểm, năng lực tàn phá, huỷ diệt, sự trì níu và làm tụt hậu của nó. Điều khiến người nghệ sĩ day dứt là phải vượt qua cái đáy thẳm đó để, trước khi đến được chân trời xa xôi của văn minh, ít nhất cũng đến được miệng vực, tức là mặt đất của sự công bằng, không thiên kiến, nơi cá nhân có vị trí độc lập với cộng đồng. Và nếu như thời hiện đại lấy con người cá nhân với cái tôi biết suy nghĩ làm cơ sở cho tất cả thì phải chăng, Nam Cao còn một điều day dứt nữa: Làm thế nào để xoá bỏ nỗi sợ cô đơn. Bởi vì con người cá nhân chỉ có thể phát triển khi người ta không còn quá khiếp sợ nỗi cô đơn để có ý thức về tự do của mình.

Nguyễn Thị Từ Huy


1 Những trích đoạn của Chí Phèo được lấy trong cuốn Tuyển Tập Nam Cao, tập1, NXB Văn Học,1997

1, 2 Nghệ Thuật Tiểu Thuyết, Milan Kundera, NXB Đà Nẵng, tr.18 và tr.115

1 Trong văn học, cái bóng thường được dùng như biểu tượng của sự cô đơn, kẻ đơn độc chỉ còn có cái bóng của mình là bạn, cho nên xem bóng như người tri kỷ để thổ lộ tâm tình: "Ngồi đây ta nói sự đời/ Ta ngồi ta nói, bóng ngồi bóng nghe" (Tản Đà- Nói Chuyện Với Bóng). Chí Phèo đương nhiên không xem bóng là kẻ tri âm hoặc kẻ song trùng hay bản chất thứ hai của mình (quá cao siêu đối với Chí). Chí nhìn thấy ở nó một nhân dạng, một hình bóng của con người, dù méo mó, xệch xạc, thu gọn rồi lại dài loang ra. Một nhân ảnh tơi tả, kì dị cũng đủ xoa dịu nỗi hận bị bỏ rơi của Chí.

1 Tuyển Tập Nam Cao, sđd , tập 2, NXB Văn học, 1997, tr.231.

1 Điều băn khoăn được nói ra trong những lời cuối cùng của Chí: "Làm thế nào cho mất những mảnh chai trên mặt này?". Đây không phải vấn đề hình thức bên ngoài quan trọng hơn đời sống nội tâm. Cũng không phải nỗi lo rằng cái bề ngoài là thứ dễ nhận biết còn nội tâm thì khó hoặc không thể nắm bắt. Đây là sự đồng nhất hình thức bên ngoài với các giá trị của nhân cách, là quan niệm cho rằng hình thức phản ánh bản chất bên trong của con người. Những vết mảnh chai trên mặt Chí gắn với một quá khứ không thể nào thay đổi được nữa. Quá khứ đó huỷ hoại hiện tại và giết chết tương lai của Chí, chỉ vì nó không bị xoá bỏ trong ý thức của cộng đồng bao quanh Chí.

1, 2 Nết hiền lành đến mức đần độn của Nhu (hay của dì Hảo) được Nam Cao trình bày như một giá trị đã hoàn toàn bị phá sản trong cuộc sống hiện tại. Nam Cao lên án chính cái đức ở hiền thụ động ấy chứ không bảo vệ nó để chống lại sự sắc sảo một cách hiệu quả của cô em, Nhượng. Nếu như trong Chí Phèo còn thể đổ lỗi cho Bá Kiến, bà cô Thị Nở, thì trong ở hiền, Nhu phải chịu trách nhiệm về bất hạnh của chính mình. Và cũng khó mà nói được rằng qua vụ thắt cổ tự tử của Lang Rận, Nam Cao muốn đề cao chữ "tiết" và đức trọng danh dự của người nông dân. Cùng lắm ta chỉ thấy ở đó một nạn nhân, một cái chết vô lý mà nguyên nhân là sự độc ác của dư luận và sự hèn yếu của người đàn ông không đủ bản lĩnh để chịu trách nhiệm về việc mình đã làm, một việc không phải là tội lỗi gì ghê gớm mà nhìn ở một góc độ khác, đó còn là một trong những quyền cơ bản của con người: quyền được yêu (Lang Rận và Mụ Lợi đều là những người không bị hôn nhân ràng buộc). Lang Rận chết không vì bảo vệ một danh dự hãõo huyền mà vì không thể đối mặt với sự khinh bỉ của những kẻ không là mẫu mực của đạo đức mà lại tự cho mình cái quyền xâm phạm vào tự do của người khác. Nam Cao nhận thấy bi kịch của con người không sống cho chính mình mà sống cho hình ảnh của mình trong mắt người khác; người ta tự bóp nghẹt mình, tự gò mình theo một khuôn mẫu chung và dẫn tới hậu quả là tự thủ tiêu mình. Sự lặp đi lặp lại của chủ đề này trong nhiều tác phẩm của Nam Cao chứng tỏ ông xem nó là một vấn đề lớn, có nghĩa là, theo ông, dân tộc muốn phát triển không thể không giải quyết nó bằng một quá trình mà ông gọi là "lọc máu".

Chủ Nhật, 24 tháng 6, 2007

Moulin Rouge PARIS





Khi nói đến Paris, không thể không nói đến những hộp đêm sang trọng nổi tiếng như: Lido, Crazy Horse, Moulin Rouge. Ba hộp đêm này có những sắc thái khác biệt nhau, khác biệt về lối trình diễn những màn vũ, cũng như trang cách trang trí sân khấu .v.v.

Hộp đêm Lido đã có từ 60 năm nay, đây là biểu tượng sự sang trọng và lịch sự, với đoàn vũ 60 nam và 42 nữ vũ công. Tiêu chuẩn chiều cao các vũ công, nam 1,83m, nữ 1,75m. Người ta đếm nơi đây có 600 bộ áo quần lộng lẫy. Ngoài 102 vũ công, trong hộp đêm Lido có thêm 400 nhân viên làm việc trong đó kể cả nhân viên về kỹ thuật sân cũng như người phụ trách áo quần cho vũ công thay đổi v.v. Lido chứa được 1.150 khách. Khách vào phải mặc áo vết và mang cà vạt, nếu khách quên, sẽ có nhân viên đưa cà vát cho mượn. Trước khi ra về, khách trả cà vạt lại cho nhân viên.

Hộp đêm Crazy Horse (được 56 tuổi) một biểu tượng cho sự gợi cảm một cách tinh vi và nghệ thuật với 20 nữ vũ công biểu diễn những màn vũ nghệ thuật gần như là khoả thân, và đặc biệt nhảy theo màu sắc của ánh đèn. Nơi đây sẽ cho bạn một bầu không khí giải trí 1giờ 35 phút, với những màn biểu diễn vũ điệu taboo, bạn cảm thấy bị thu hút từ màn đầu cho đến màn cuối. Hộp đêm Crazy Horse nằm trong khu Champs Elysées.

Hộp đêm Moulin Rouge (118 tuổi) tuy là một hộp đêm ca vũ nhạc, nhưng là biểu tượng một khiá cạnh về văn hoá của Paris. Nói đến Moulin Rouge người ta nghĩ ngay đến Paris về đêm. Trước mặt tiền của hộp đêm có một nhà máy xay lúa đặt trên nóc với cánh quạt gió, nhấp nháy đang quay bằng những ánh đèn néon đỏ, ngay trung tâm khu phố hợp thời trang. Những cảnh trang trí trên sân khấu Moulin Rouge huy hòang lộng lẫy ( nơi đây có 1000 bộ áo quần ). Vũ điệu sống động luôn luôn đổi mới, và những nữ vũ công xinh đẹp được mệnh danh là Doris Girl. Vũ điệu đặc biệt luôn luôn mở đầu chương trình là điệu vũ French Cancan (màn vũ biểu tượng của Moulin Rouge) với váy xòe nhiều lớp 3 màu (màu cờ Pháp), xanh, trắng, đỏ, (không bao giờ thay đổi). Những bài hát trình diễn nơi đây hết 80% là bài hát của Pháp, có khỏang hơn 100 nghệ sĩ trình diễn, trong đó có 60 nữ vũ công (luôn luôn 60 nữ vũ công) Đoàn vũ biểu diễn liên tục trong hai tiếng đồng hồ, với 9 lần thay đổi áo quần mới lạ làm cho khách đến chóa mắt, và cách trang điểm đều giống nhau, đôi khi khách có cảm tưởng họ là những cặp chị em sinh đôi.

Ngoài điệu vũ French Cancan có màn vũ then chốt là bồn cá lớn với các mỹ nhân ngư. Khách đến Moulin Rouge lúc nào cũng đầy ở mức độ 100/100. Hộp đêm này tiêu thụ rượu champagne với một số lượng trung bình 350.000 chai mỗi năm. Trong phòng chứa được 850 khách. Hộp đêm Moulin Rouge trình diễn mỗi đêm ba xuất, bắt đầu từ 6 giờ 30. Moulin Rouge cũng đã tiếp đón những nghệ sĩ nổi tiếng như : Frank Sinatra, Joséphine Baker, Jane Avril, Edith Piaf. Mới đây, Moulin Rouge đã được lồng vào phim với vai chính là Nicole Kidman.

Những cô gái trẻ đến từ khắp nơi với giấc mơ được tuyển vào đòan vũ công MouLin Rouge. Trước khi vào đây, phải qua một cuộc thi tuyển thật gắt gao. Mỗi lần tuyển, người ta chỉ nhận vài vũ công trên số khỏang 300 người. Lúc đầu, thí sinh được quyền mặc quần áo thun bó sát để nhảy biểu diễn qua cuộc thi khảo sát. Sau khi bị lọai ra khỏang 9/10. Số được tuyển còn lại, được yêu cầu nhảy với một string nhỏ xíu để giám khảo kiểm sóat cả thân hình, nhất là mông và ngực, tuyệt đối đôi chân và mông không được có vết thẹo hay vết nám. Chiều cao trung bình 1,75. Một số thí sinh trình độ nhảy múa giỏi, có thân hình đẹp, nhưng hơi ốm, hay hơi mập cũng bị loại. Thí sinh khi trúng tuyển, có nơi ăn chốn ở, và có số lương 2.500 euro mỗi tháng.

Người tuyển chọn thí sinh cho Moulin Rouge là cựu nữ vũ công gốc người Mỹ, nổi tiếng trong đoàn trước kia. Ngòai việc tuyển chọn thí sinh bà còn huấn luyện các màn vũ nữa. Những vũ công khi được thâu nhận làm việc ở đây, đối với họ là một điều may mắn, ngay cả khi thôi việc họ vẫn lấy làm hãnh diện. Mức độ làm việc ở đây gần như không ngừng với sự huấn luyện nghiêm khắc, và mỗi tuần chỉ được nghỉ một ngày, nên các vũ công không dễ có một cuộc sống gia đình được. Một số vũ công may mắn có chồng giàu sang thì nghỉ viêïc, một số vũ công khác thì muốn chuyển nghề. Nhưng muốn chuyển nghề cũng không phải dễ, một khi đã quen với ánh đèn màu, với những tràng pháo tay ngưỡng mộ. Chỉ có một số ít đã thành công trong việc chuyển nghề như: điêu khắc, kịch sĩ hay là giáo sư dạy vũ...

Điệu nhảy French Cancan
Vào năm 1850 một nữ vũ công chế ra một điệu nhảy mới với điệu giựt nhanh theo lọai nhạc Offenbach. Mười năm sau, lọai nhảy này biến thành French Cancan nhờ ông Charles Morton chế biến thêm: vũ công khi nhảy, thỉnh thoảng hất váy thật cao ở phía trước, rồi xoay người, đưa lưng về phiá khán giả, cúi rạp người, vén váy phiá sau thật cao, rồi quay người lại lần lượt đưa cao chân này đến chân kia, nhảy thật cao để buông mình rơi xuống sàn nhảy với hai chân dang rộng, chân trước với chân sau tạo thành một đường thẳng.

Những vũ công được mệnh danh Doris Girl.
Doris, một cô gái gốc người Đức, thủa nhỏ đã mơ đến chuyện nhảy múa, lén cha mẹ đi học vũ cổ điển. Sau khi tốt nghiệp, Doris ghi tên học thêm khóa huấn luyện viên về vũ. Ngoài việc học ở nhà trường, Doris viết báo để có thêm tiền trả lệ phí cho khoá học này. Sau khi có mảnh bằng huấn luyện viên trong tay, Doris nghĩ ngay đến Moulin Rouge tại Paris, và Doris đến Paris đã được nhận làm vũ công tại Moulin Rouge. Trong thời gian đầu, nhảy múa, bắp thịt đầu gối và khủyu tay của Doris không chịu nổi những vũ điệu giựt mạnh, nên Doris xin qua một hộp đêm khác. Hộp đêm này đã nhận Doris làm trưởng đòan vũ. Không bao lâu, Doris đã tạo nên một nhóm vũ công với những màn vũ độc đáo.

Trước những thành công của Doris, Moulin Rouge mời Doris trở về lại Moulin Rouge với tư cách huấn luyện viên đoàn vũ. Thành công đến ngay với những màn vũ, nhất là điệu French Cancan đổi mới, do Doris tung ra vào năm 1961. Tiếng đồn vang dội khắp nơi, ngòai công việc phụ trách đoàn vũ ở Moulin Rouge, Doris được mời để huyấn luyện đoàn vũ tại Luân Đôn, Vienne, Tokyo. Người ta không thể ngờ Doris đã thành công hơn điều người ta tưởng. Cho đến bây giờ, các vũ công trong hộp đêm Moulin Rouge tiếp tục phát huy những tinh hoa của Doris truyền lại.

Tại sao Moulin Rouge?
Moulin Rouge có truyền thống lâu đời được ông Josseph Oller (chủ nhân của rạp Olympia ở Paris) xây vào ngày chủ nhật 6/10/1889, tại vùng ánh sáng đỏ Pigalle trên đại lộ Clichy thuộc quận 18 (gần khu Montmartre). Vào thủa xa xưa ở nước Pháp, mỗi vùng đều có một nhà máy xay lúa, với bốn cánh quạt gió lớn. Do đó, nhà máy xay lúa bằng gió là một hình ảnh quá quen thuộc đã đi vào tiềm thức của dân gian. Ông hoạ sĩ Lautrec đã có sáng kiến để cho mọi người dễ nhớ bằng cách dựng trên nóc của hộp đêm một nhá máy xay nhỏ để làm biểu tượng và cũng là tên của hộp đêm và Moulin Rouge để lại trong lòng khách một ấn tượng đẹp, có ý nghĩa, khó quên.

Bích Xuân
bichxuanparis@yahoo.com

Thứ Tư, 20 tháng 6, 2007

Tuyển Tập Thơ Tình Hải Ngoại





Ký giả Hoàng Lê tổ chức đêm văn nghệ giới thiệu Tuyển Tập Thơ Tình Hài Ngoại với sáng tác mới nhất của 40 thi sĩ VN định cư tại Canada và các quốc gia trên thế giới vào 8 giờ tối thứ bảy nầy ngày 22-10-2005 tại phòng trà ĐÊM MÀU HỒNG số 1950 Sainte-Catherine E, metro Papineau. Đêm văn nghệ sẽ có sự hiện diện của nhà văn thi sĩ kiêm nữ ca sĩ Bích Xuân từ Paris qua trình diễn, ngoài ra có các giọng ngâm điêu luyện Dạ Dung, Tân Văn và Thu Vân với tiếng sáo độc đáo Nguyễn Chí Hòa, nữ vũ sư Thu Thủy biễu diển và ban nhạc danh tiếng Phạm Mạnh Cương cùng với các ca sĩ tên tuổi góp vui trong chương trình thi ca nhạc dạ vũ. Vé vào cửa chỉ có 25$ mà mang lại cho khán giả một đêm thơ mộng, sống động và toại nguyện.


Người đàn bà xứ Quảng
chơi chữ ở Paris
Đó là Bích Xuân. Như cô tự giới thiệu: cao 1,70m, nặng 60kg, quê quán Đà Nẵng, sang Pháp định cư từ năm 1978. Cái đẹp và làm đẹp là nghiệp chướng của người đàn bà đa diện này.


Bắt đầu bằng đam mê nghệ thuật trang điểm. Đôi tay vàng của Bích Xuân góp phần tôn tạo vẻ đẹp các cô người mẫu của nhà tạo mẫu thời trang Thành Lễ. Rồi điên cuồng dành hết thời gian cho văn chương. Bốn tập thơ: Bao giờ em quên (1994), Chàng (1996), Bao giờ anh đi (1997), Bây giờ em vui (1998). Một tập truyện ngắn và bút ký: Trước khi mùa xuân đến (2001). Ấy là chưa kể chuyện ca hát, sản xuất CD...


Năm 1988 Bích Xuân mới viết bài thơ đầu tiên. Có muộn nhưng đúng lúc và thật tự nhiên, như một nhu cầu sống. Đó là lần nhận được tin mẹ mất bên quê nhà. Lúc ấy chỉ có thơ mới nói lên được nỗi đau xé lòng mà ngôn ngữ ngày thường bất lực. Với kinh nghiệm này, Bích Xuân tiếp tục phát hiện và biểu hiện bản thân qua thi ca. Đáng ngạc nhiên là tác giả của những bài thơ cuồng nhiệt, "quậy", ám ảnh dục tình này lại rất phương Đông trong đôi điều lễ nghĩa. Chẳng hạn năm 1998 xuất bản tập thơ Bây giờ em vui, Bích Xuân cho biết không phải trong thơ cô có chuyện vui vẻ gì mà chẳng qua muốn ông cụ thân sinh trong tuổi xế chiều được yên tâm một tí về cô con gái rượu vì cụ vẫn quan niệm "thơ nó vận vào người"! Hay năm 2001 tập truyện ban đầu có tựa rất ỡm ờ Sau những lần...đã đổi thành Trước khi mùa xuân đến vì theo Bích Xuân "Đi ngang qua bàn thờ, linh cảm có ánh mắt cha tôi đang nhìn theo...Tôi chợt hiểu, ông cụ không hài lòng...".


Thơ cũng như truyện, bút ký của Bích Xuân thường ẩn chứa ám ảnh dục tình. Cô cũng không né tránh đề cập lĩnh vực này: "Tôi sống trong bối cảnh phóng khoáng của phương Tây nên không ngần ngại viết lên những cảm xúc thật của mình."


Chẳng hạn tôi tình cờ trông thấy một người đàn ông...Bây giờ thì tôi không thể hình dung ra ông ta như thế nào, già hay trẻ, xấu hay đẹp...Chỉ nhớ và đáng nhớ là lúc ấy ông ta ôm trong tay một con mèo và đang vuốt ve nó. Trong thoáng chốc tôi bỗng ước ao ghê gớm được trở thành con mèo trong tay người đàn ông. Nhưng nếu tôi là con mèo đó thật thì tôi sẽ không như nó, không nằm yên "ngái ngủ trong tay anh" như cô Nga nào trong thơ Nguyên Sa mà tôi sẽ nhảy vọt vào người "anh", sẽ cào, sẽ cấu, sẽ xé "anh" cho rách bươm trong hạnh phúc. Và tôi đã viết: "Ước gì em biến thành mèo/ Để em cào xé, leo trèo lên anh...Đó không phải là cuồng dâm. Đó là trạng thái thăng hoa của hạnh phúc...".

Con đường dẫn đến văn chương, cách làm văn chương của Bích Xuân đáng nói hơn chính văn chương của Bích Xuân. Mặc dầu trong bài tựa cuốn Trước khi mùa xuân đến, Bích Xuân tỏ ra kính nể các nhà văn trường phái "công bút" như Balzac, Bovari, Voltaire...nhưng cô lại có khuynh hướng sáng tác theo tốc độ chóng mặt của Victor Hugo. Câu chữ của Bích Xuân còn dễ dãi, tự nhiên. Một sự tự nhiên như nhiên, không là kết quả đỉnh cao của "công bút". Cái tôi của tác giả phơi bày nổi bật, dường như chịu ảnh hưởng một thời thành công trong nghề làm đẹp. Hay đó chính là sự lựa chọn của Bích Xuân? Đọc Bích Xuân-Paris mà không thể không nhớ Huỳnh Thị Nhung-Hội An. Cũng cao 1m 70, nặng 60kg. Nhung bán cà phê để viết tiểu thuyết. In ba bốn cuốn chưa thoả, vẽ tranh. Đi Malaysia, Hàn Quốc triển lãm. Lúc này đang dự trại sáng tác mỹ thuật ở Pháp. Liệu hai người đàn bà xứ Quảng xinh đẹp chơi chữ và vọc màu cỡ quốc tế ấy có tình cờ gặp nhau trên đất Paris không nhỉ? Nếu có thì Paris hơi bị chật chội đấy!

Vĩnh Quyền