Hiển thị các bài đăng có nhãn Bài viết. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bài viết. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 10 tháng 7, 2007

Tràn Trề Tình Cảm !

Dân Việt tỵ nạn sang đây thấm thoát đã gần phần ba thế kỷ. Vật đổi, sao dời. Ngày mới bước chân sang đây, “nhà nước ta” nhìn theo, chửi đổng: “Đồ ma cô, đĩ điếm, bám chân đế quốc Mỹ.”

Ngày nay đô la xanh, máy chụp hình, quay phim, giấy quốc tịch đeo lủng lẳng cùng người, nhà nước ta nhìn người tỵ nạn, thuyền nhân trở về, với vòng tay âu yếm, ân cần ngợi khen: “Chà, Việt Kiều yêu nước về thăm đất nước để giúp “quê hương là chùm khế ngọt” thì thiệt là có tấm lòng yêu nước quý hóa.”

Mới đây, khi sang thăm nước Mỹ, ông chủ tịch “nhà nước ta” Nguyễn Minh Triết còn gọi người Việt hải ngoại là “Máu của máu Việt Nam!” Tuy chẳng hiểu ông chủ tịch nói gì nhưng nghe nói tới máu mủ là tôi sợ muốn chết.

Ông nhà báo sốt ruột:

- Chuyện nhà nước khen ngợi “Việt Kiều” hay muốn ám chỉ rằng “mình” và “ta” tuy hai mà một, vẫn có chung dòng máu, vẫn là đồng bào thì có ăn chung gì tới các bà mà phải đem bàn?

- Có chứ, trên đời chuyện gì cũng có nhân, có quả cả ông ạ. Các ông tỵ nạn, các ông thuyền nhân, bộ nhân sau một thời gian cầy bừa vất vả hay các ông Hát- Ô đến trễ tràng khi đã gần hết tuổi lao động trên xứ người thì vừa khi nhà nước ta thấy rằng tiền nào cũng là tiền.

Hơn nữa, tiền của Việt Kiều xứ người gửi về vừa nhiều, vừa thơm, vừa dễ, không hề đòi hỏi điều kiện dân chủ, nhân quyền khó nuốt vì đa số gửi về để giúp gia đình, giúp người nghèo khó nên “nhà nước ta” khuyến khích, dụ dỗ, lừa gạt trăm phương ngàn cách cho Việt Kiều gửi tiền về. Nhà thơ gật gù:

- Tất cả những gì về lưu manh, lừa gạt tôi phục chúng nó nhất. Trên đời chưa từng có “nhà nước nào” nghĩ ra cách kiếm tiền giỏi một cách tuyệt đối, ba trợn và vô liêm sỉ như chúng nó. Nhưng nghĩ cho cùng, nếu mình không ham về ăn chơi, không ham về kiếm tiền để bị lừa gạt, không ham vợ bé, đào non thì làm gì nó lợi dụng được mình, nó xỏ mũi mình, nó sai bảo mình chi tiền vào những chỗ nó muốn mình chi?

Bà nhà báo cười:

- “Nhà nước ta” đâu phải chỉ tài giỏi về mặt kiếm tiền, họ giỏi về nhiều mặt khác nữa. Chuyện lưu manh như chuyện dựng đứng những nhân vật anh hùng, thần thánh: “Bác Hồ”, “Anh Kim Đồng” chẳng hạn. Còn bầu cử luôn luôn dân đi bầu tới... 99% như trong tất cả các cuộc bầu cử và cuộc bầu quốc hội vừa qua cũng thế. Bao giờ cũng giở trò “Đảng cử, dân bầu!” Đúng là trò dụ dỗ trẻ con!

- Còn chuyện xúi dân ăn cứt gà nữa chi! Ngày xưa, cho bọn “Ngụy” mình vượt biên bán chính thức để thu tiền rồi hoặc dắt ra bỏ giữa biển cho chết chìm, hoặc bắn ngay vào tầu khi vừa ra khỏi bãi là thường.

Người chết không nói được nhưng còn những người sống sót, còn những bằng chứng sờ sờ mà chúng nó vẫn lấp liếm được thì đúng là mặt dầy! Thế mà dân mình cứ cúi đầu nghe mới là chuyện lạ.

Nhà văn thở dài, nhỏ giọng xuống, tâm sự:

- Các cụ ạ, nói không phải chứ tôi thấy dân mình... chẳng anh hùng tí nào cả. Hay ít ra thì từ ngày có Cộng Sản đến giờ. Con giun xéo lắm cũng quằn thế mà đã hơn nửa thế kỷ qua, cứ có một đường lối, một chính sách, một cách tuyên truyền, thế mà lần nào cũng mắc bẫy, nó nói sao dân nghe vậy, nó đàn áp thế nào cũng chịu rồi chỉ biết kêu than.

Nhà thơ gật gù:

- Thằng nào tham nhũng, ăn chơi được thì cứ ăn chết bỏ. Ăn từ nhà thương ăn ra nghĩa địa, ăn từ người bệnh cho tới người chết. Xác người cứ bán, nghĩa địa cứ đào. Chất thải độc làm dân chết cả làng vì ung thư? OK, miễn là nhà máy, công ty chi tiền cho “nhà nước” hậu hĩ. Miễn là giàu sang. Sống chết mặc bay.

Thằng nào bán máu, bán con, bán vợ thì cứ bán. Cha mẹ bán con đi làm vợ lẽ, làm điếm được thì cứ bán lấy tiền xây nhà tường. Không thể nào tưởng tượng được xã hội Việt Nam với gần năm ngàn năm văn hiến mà dường như vô văn hóa trong cách đối xử giữa con người với con người, giữa chính phủ với người dân, giữa cha mẹ, vợ chồng, con cái với nhau.

Hình như bây giờ, số dân Việt chẳng còn mấy tí sĩ diện, lương tâm hơi nhiều, nó trở thành khuynh hướng thời đại chứ không phải chỉ là một vài trường hợp riêng rẽ nữa! Đáng buồn biết mấy!

Ông Hát Ô buồn thiu:

- Thanh niên trí thức thì cứ nửa thức, nửa ngủ. Những người có lòng với đất nước kêu gọi gần chết cũng chẳng mấy người hưởng ứng. Mất đất, mất nhà, ra trước nhà các ông lớn, ra tới trước “nhà tiếp dân” thì bị đánh, bị dẹp gần chết cũng chẳng ông lớn, bà nhỏ nào ra đấy can thiệp. “Mẹ Việt Nam chết” cũng mặc kệ. “Người con gái VN da vàng” đi bán “vốn tự có” cũng kệ em! Chưa bao giờ nhân phẩm người đàn bà VN bị rẻ rúng đến vậy.

Bà nhà thơ kêu:

- Nghệ sĩ thì chỉ bắt chước người ta, chẳng thấy được tác phẩm nghệ thuật nào có giá trị. Chưa hết, đàn ông, thanh niên VN thấy người yêu, đàn bà con gái ào ào “xuất khẩu” lấy chồng xứ người, dù đui què, sứt mẻ cũng chỉ biết kêu than: “Con chim đa đa đậu nhánh đa đa. Chồng gần không lấy, sao em lấy chồng xa..?”

Câu hỏi đó, các ông Việt Nam phải tự hỏi mình. Sáng, trưa, chiều tối, khuya, sớm đều nhậu nhẹt lu bù, quán ăn, bia rượu, gái ghiếc, xì ke, thuốc lắc, ma túy cứ nườm nượp từ ông lớn tới thằng nhỏ. Thử hỏi ông ăn tiêu thì ai nhịn? Vợ con ông chứ ai nếu ông không phải tay chuyên môn nói ra bạc, khạc ra tiền hay nắm được vài cái dù che ấm áp cả cuộc đời?

Bà nhà văn thấy bà bạn vàng hăng quá, cười tủm tỉ

- Làm gì mà bà nóng thế? Các ông lớn trong cái “nhà nước ta” bây giờ cũng văn minh lắm, các ông sạch như lau, như ly, có thấy điều tiếng gì đâu nào. Chủ tịch Nguyễn Minh Triết chẳng tuyên bố đại khái rằng: “Chúng tôi đã từng bị mất tự do nên chúng tôi rất yêu mến tự do và tôn trọng nhân quyền lắm lắm. Chúng tôi chẳng có tù nhân lương tâm nào cả, chỉ có bọn phản động, chống phá an ninh tổ quốc thì phải trừng trị thẳng tay chứ...”

Ông Hát Dù cười khẩy:

- Thì cũng như vụ chúng lừa gạt chúng tôi vào tù rồi bảo để giáo dục chúng tôi ấy mà. Đồ vô giáo dục, vô liêm sỉ mà đòi dậy người khác học làm người!

- Chưa hết, kỳ này ông Triết sang đây toàn nói chuỵên tình cảm, chuyện “dù trong hay ngoài nước cũng đều là người Việt Nam”, chuyện ông muốn mời những đồng bào đang biểu tình dàn chào ông và đòi nhân quyền cũng như tự do cho Việt Nam vào ăn tiệc cùng với ông...

Bà nhà văn xuýt xoa:

- Trời ơi, cơ hội ngàn năm một thủơ ông được gặp khúc ruột xa ngàn dặm. Ông đã xổ nho “Tha hương ngộ cố tri”, nhất là cố tri đang biểu tình mà ông nỡ bỏ qua không xuống “rua” nhau một cái có phải là thắm thiết tình cảm không.

Nhà thơ bĩu môi:

- Chẳng qua ông Triết rút kinh nghiệm vụ Phan Văn Khải sang đây bị “Đồng bào, khúc ruột xa ngàn dặm” dàn chào kỹ rồi tố cáo ngay trong buổi họp báo là “Anh là tên nói láo!”. Hắn không kềm nổi thú tính quen thuộc của chính thể độc tài, đã quát lên đòi: “Đuổi nó ra!” Thời buổi tin học bây giờ, những hình ảnh đó trông... lạc hậu, ấu trĩ, thô bỉ và chỉ có hại cho những chuyến thương lượng cũng như hình ảnh của nhà nước VN mà thôi.

Ông Hát Dù gật gù, thở ra

- Kỳ này, ông Triết muốn vẽ một hình ảnh mới mẻ, văn minh, cởi mở và hơn nữa, đầy tràn tình cảm qua những câu thơ ông ngâm nga quảng cáo: “Quê hương là chùm khế ngọt...”Thật ra khế thường chua gần chết, lâu lâu mới có một cây gọi là khế ngọt, tức là chỉ hơi hơi không... chua thôi chứ làm gì có khế ngọt, cũng như chanh ngọt tức là chanh không chua, thế thôi.

Thiên hạ cứ nghe ngọt ngào, xuôi tai là tin bằng chết. Các cụ thấy nhà thơ Hoàng Cầm ca tụng “lá diêu bông” đấy. Làm gì có lá diêu bông, thế mà ai cũng nhớ, cũng thích bài thơ. Ông Triết biết thế nên lợi dụng bài thơ nổi tiếng để “dụ” đồng bào về quê, chung tiền cho các ông ăn chơi, tham nhũng, xây dinh, nuôi “con nuôi, cháu nuôi”... và hơn nữa, để củng cố cho cái chế độ độc tài, đảng trị của Cộng Sản.

Ông Hát Ô cười:

- Đúng vậy, tin vào diễn xuất của ông Triết cũng như tin vào những giọt nước mắt cá sấu của “bác Hồ” ngày nào sau khi “bác” bán cụ Phan cho Pháp để lấy tiền.

Nhà văn thở dài:

- Thế mà bao giờ cũng có những người mắc bẫy. Trong số khoảng 700 người dự bữa tiệc với ông để nghe ông quảng cáo về những cơ hội đầu tư kỳ vào VN, thế nào ông Triết cũng bẫy được một số con mồi ngây thơ.

Các cụ có nhớ vụ ông vua chả giò đang kiện nhà nước ta ra trước tòa án quốc tế về tội tước đoạt tài sản, bắt bỏ tù ông ta không? Vụ ông chủ trường bị mất trường sau khi trường làm ăn khấm khá...

- Chưa hết, còn thằng Trần Trường, con cờ sáng chói dám làm bàn thờ Hồ Chí Minh giữa phố Bolsa rồi đem tiền về VN kinh doanh với nhà nước ta, tưởng rằng mình là con cưng của “bác và đảng” cũng đang bị tù và đang chống án đó.

Nhà thơ cười miếng chi:

- Tôi vẫn cho thế là đáng đời. Tuy nhiên, phải nói là tiên trách kỷ, hậu trách nhân, nếu mình không tham tiền, không ngu dại để quên cái bản chất lật lọng, thâm hiểm, tráo trở, không ham về ăn chơi thì làm sao nó dụ dỗ được mình?

Kathy Trần

Chủ Nhật, 8 tháng 7, 2007

Với Bốn Phương Chìm Nổi - Việt Dương Nhân

Xem chương trình Buổi RMS của chị VDN vừa đăng tải trên Tao Ngộ hay quá, nhưng phải bỏ giữa chừng vì đã đến giờ tôi phải đi làm, tiếc thật ...

Chương trình rất phong phú , có đầy đủ màu sắc nhất là giữa hai giới , một thế hệ lão thành và một thế hệ thứ hai đang tiếp tục những con đường của các bậc cha anh đã đi qua . Theo dõi chương trình này , tôi thấy được nhiều khuôn mặt từng có tiếng tăm một thời như nhà văn Hồ Trường An, nhà ký giả Trần Trung Quân, nhà văn kiêm thi sĩ Đỗ Bình, nhà thơ kiêm phóng sự Bích Xuân và nhà báo kiêm nhà văn lão thành Tô Vũ v.v..

Đặc biệt nhất là chương trình buổi lể RMS của chị mở đầu vẫn là chào Quốc Kỳ và hát Quốc Ca , một hình thức rất trang nghiêm cho các buổi lễ . Dáng dấp người nữ MC mặc áo dài vàng có cờ ba sọc đã làm tôi hảnh diện lây, nhìn tờ chương trình cũng đã trân trọng với bìa cứng có hình cờ vàng ba sọc mà thấy rưng rưng trong lòng . Tôi cũng đã từng khóc vì xúc động mỗi khi được hát Quốc Ca và nghiêm trang dươí màu cờ Tổ Quốc không biết bao nhiêu lần rồi, nhưng mỗi lần nhìn lại vẫn là một xúc động không kém .

Người thơ VDN đã cho chúng ta xem một chương trình thật phong phú khi chị và các bạn hưữ tổ chức buổi lễ RMS cách đây đã gần 10 năm rồi, chị chính là con chim đầu đàn của những buớc đầu khó khăn và sôi động cho tập thơ đầu tay khi ra mắt. Trong mười năm trước vấn đề ra mắt một tập thơ không được dễ dàng như bây giờ, là cần đòi hỏi tên tuổi của nhà văn hay một nhà thơ phải được mọi người biết đến nếu không thì khó mà nhà xuất bản nào nhận lời, bằng không tác gia phả tự bỏ tiền in ấn và xuất bản .

Giòng thơ của VDN không chỉ là những giòng thơ chỉ biết nói về những tình cảm vụn vặt của con người mà còn là tình cảm xa xôi hơn khi nghĩ về quê hương mà ngàn trùng cách biệt . Đức Tùng một nhà thơ trẻ ở thế hệ thứ hai đã cảm được lời thơ của tác giả khi đọc và thấy nỗi lòng trong bài thơ của chị vìết về một quê hương dấu yêu, nhắn nhủ các đứa con vẫn còn đang tha hương lạc loài nơi đất khách. Bài thơ này đã làm xúc động tâm tình của người trai trẻ khi nghĩ tới quê hương và thân phận lưu đầy nơi đất khách.

Tất cả những bài hát trong chương trình có lẽ đã chọn lọc rất kỹ vì toàn nhạc viết cho quê hương, chỉ một vài bài nhạc tình cảm nhẹ nhàng thôi . Giọng ngâm của chị Ngọc Xuân rất tình cảm qua nhiều vần thơ tiêu biểu trong tập thơ Bốn Phương Chìm Nổi của VDN, giọng ngâm Ngọc Xuân nếu tôi không nhìn rõ mặt tôi cứ ngỡ là giọng ngâm của ca sĩ Hoàng Oanh khả ái mà tôi từng mến mộ .

Việt Dương Nhân

Nói chung đây là một thành công không nhỏ đối với nhà thơ nữ VDN của chúng ta, dù đã sau mười năm nhưng hào khí của chị tôi vẫn còn thấy ở những thời điểm như mỗi năm cứ gần đến ngày 30 tháng 04 là bằng mọi cách ngay trang thơ chị nơi chị đang cộng tác trên các diễn đàn đã dẫn topic lên hàng đầu trong suốt thời gian Tưởng Niệm cho ngày 30 tháng 04 vừa qua như tôi đã được biết . Chị vẫn hăng say làm việc và vẫn một lòng chung thủy với quê hương..

Cuối cùng là lời nhận xét và phê bình tập thơ Bốn Phương Chìm Nỗi của nhà báo lão thành Tô Vũ , ông trân trọng giòng thơ của VDN , qua tuyển tập mà ông đã đọc, đề tài tập thơ viết về quê hương ,viết cho thân phận con người và nỗi chán chường cho tình ái long đong của kiếp má hồng phận bạc và tôn giáo .Cuối cùng nhà thơ chỉ còn biết tìm về nơi chốn Đạo Pháp lấy câu kinh tiếng kệ quên đi cuộc sống đời thường . Ông đã chúc mừng nhà thơ VDN khi ước vọng của tác giả đã được thực hiện trong đời, như lời thơ của chính tác giả viết

Yêu thơ tôi mộng tôi mơ
Mơ thành thi sĩ làm thơ tặng người...


Và cuối đời tác giả tìm được sự an bình khi đến với Tôn Giáo.

Bao đêm khấn nguyện Di Đà
Giúp gương trí tuệ đánh tà đuổi ma
Tà ma nay đã lìa xa
Thâm tâm bình lặng lòng ta nhẹ nhàng


Có ai biết đến chị không ? nhưng riêng tôi , tôi vẫn nhìn chị như tấm gương sáng từ tâm hồn cho đến cung cách sống của một người nữ lưu đang trong lứa tuổi về chiều . VDN vẫn mãi là một đoá hồng nở rực với thời gian, cho dù cũng có lúc bị gió mưa dập vùi..

Xin cho những tháng ngày còn lại đầy nắng ấm và mây nước hiền hoà để đóa hồng vẫn luôn nở rộ cho đời thêm sắc, thêm hương...

Miên Thụy
06July07

http://www.mienthuy.com/




Coi Chừng Nghiện... Khiêu Dâm

Nhiều người được chẩn đoán bị nghiện khiêu dâm sau khi đọc sách báo hay xem phim về đề tài này, và họ sẽ tìm cách giải tỏa “bức xúc” ngay lập tức tương tự như các con nghiện ma túy đang thiếu “hàng”...

Một nhóm các chuyên gia đã trình bày trước một tiểu ban của Thượng viện Mỹ rằng có một sản phẩm nguy hiểm mà hàng triệu người Mỹ đang tiêu thụ là sự nghiện ngập phim ảnh và các ấn phẩm khiêu dâm. Tác hại của loại sản phẩm này đối với não có thể so sánh với... cocaine. Một nhà tâm lý học còn khẳng định rằng “việc phơi nhiễm lâu ngày với phim ảnh và sách báo khiêu dâm sẽ kích thích thói quen ưa ngắm nhìn bộ phận sinh dục khác giới, thực hành thông dâm và ác dâm, cũng như lạm dụng tình dục...”.

Rối loạn hành vi
Ước tính hiện có khoảng 420 triệu trang web loại này dành cho người lớn với hàng chữ cảnh báo đầu trang “Cấm trẻ em dưới 18 tuổi!” và hàng chục ngàn tạp chí, sách báo cùng loại. Tuy nhiên, không chỉ có người trưởng thành mà trẻ em cũng rất dễ dàng tiếp cận và “việc thâm nhập rất khó tránh khỏi mỗi khi lên mạng” – chuyên gia liệu pháp tình dục Louanne Cole Weston khẳng định. “Không nghi ngờ gì khi các đối tượng có thói quen này gặp rắc rối trong quan hệ giới tính, mất ngủ, không hoàn thành nhiệm vụ, hờ hững với người yêu... Hậu quả này xuất phát từ triệu chứng “rối loạn hành vi liên quan đến nghiện hình ảnh khiêu dâm” (behavior disorder involving porn addiction)...”.

Nghiện hay tự ép buộc?
Rất khó mô tả sự khác nhau giữa hành vi tự ép buộc hay tình trạng nghiện khiêu dâm. Theo TS Erick Janssen, một nhà nghiên cứu tâm lý hành vi ở Viện Kinsey, việc xác định triệu chứng nghiện này chủ yếu dựa trên mức độ thường xuyên của thói quen ngắm nhìn hình ảnh khiêu dâm hay xem phim sex, “vì khi nói về triệu chứng nghiện khiêu dâm, rất khó mô tả chính xác hình vi để xác định bệnh, nên việc chữa trị như chứng nghiện có thể không mang lại hiệu quả” - ông nói.

Nhiều người tự chẩn đoán mình là người nghiện khiêu dâm sau khi đọc sách báo hay xem phim về đề tài này, chủ yếu là sự rạo rực, thiếu vắng trong và sau khi xem. Chính điều này dễ đưa họ đến việc tìm cách giải tỏa “bức xúc” như tự thỏa mãn nhu cầu (thủ dâm), thông dâm hay lạm dụng tình dục... Tuy nhiên, lĩnh vực tâm thần học lại không có các tiêu chuẩn cho việc chẩn đoán chứng nghiện hình ảnh khiêu dâm. TS Mary Anne Layden, một nhà tâm lý học hành vi ở ĐH Pennsylvania, cho biết có một tiêu chuẩn cũng từng được sử dụng để chẩn đoán vấn đề này như một trò chơi bệnh lý, tương tự việc lạm dụng chất kích thích. Hầu hết các chuyên gia về liệu pháp tình dục từng chữa trị chứng nghiện khiêu dâm đều coi các đối tượng này như những thành phần nghiện khác.

Một trong những điểm chính của chứng nghiện này là sự phát triển mang tính chịu đựng hay tự ép buộc với chất gây nghiện (hình ảnh khiêu dâm). Tương tự như cách con nghiện ma túy cần gia tăng liều cao để có được cảm giác mạnh hơn, đối tượng nghiện hình ảnh khiêu dâm cũng có nhu cầu được xem những hình ảnh “hot” hơn, cốt chỉ để có được mức độ kích thích cao hơn so với cảm giác họ đã có lần đầu...

A. Hùng

Thứ Sáu, 6 tháng 7, 2007

Champa Năm 1832, Một Nước Không Còn Nữa

Bài viết về lịch sử vương quốc bị xóa bỏ 175 năm trước
Nhân dịp hội thảo về dân tộc Chiêm Thành tại San Jose 7-7-2007

Lời nói đầu: Chúng tôi vốn không phải là sử gia, chỉ là người đọc sử rất vội vàng mà viết bài cho kịp tin thời sự về các bạn gốc Chàm đại hội tại San Jose. Bài báo đã viết xong mới có dịp đọc thêm tác phẩm Champaka 4 trong đó có loạt bài của tiến sĩ Po Dharma. Ông là giáo sư tốt nghiệp đại học Sorbonne, Paris hiện đang dậy về văn hóa Champa tại Pháp, tại Mã lai và Nhật bản. Có dịp đàm luận với ông, thấy ra một người hết sức uyên bác đồng thời thể hiện đức tính khiêm tốn rất truyền thống dân tộc. Trong bài viết dưới đây đã thiếu xót hai phần quan trọng mà trong lúc nói chuyện với chúng tôi, tiến sĩ Po Dharma rất tế nhị không đề cập đến.

Trong suốt hai thế kỷ Nam Tiến của người Việt, vua quan và thần dân Champa đã chịu đựng biết bao nhiêu là đau thương tàn nhẫn cho đến khi cả kinh đô bị tàn phá bình địa. Đó là phần đấu tranh kháng cự của triều đình Chiêm Thành. Riêng về nhân dân Champa những cuộc nổi dậy chống người Việt kéo dài từ 1693 cho đến tận ngày nay. Trước thế kỷ thứ 19 là công cuộc đấu tranh dành lại quê hương. Các cuộc đấu tranh sau này dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa là dành quyền tự trị. Ngày nay người Champa sống dưới chế độ cộng sản lại còn khổ sở bội phần nên phải tiếp tục đấu tranh để dành quyền sống. Giao chỉ - San Jose.

Những trang sử Việt viết về dân tộc Chiêm Thành thường rất đơn giản và mơ hồ. Sau bao nhiêu năm vật đổi sao rời, truyền thuyết về quốc gia Champa đã trở thành huyền sử. Di tích còn lại là những ngôi tháp Chàm rêu phong cổ kính ở miền duyên hải Trung phần và bài ca Hận Đồ Bàn được Chế Linh trình bày trên sân khấu văn nghệ từ trong nước ra đến hải ngoại.

Sự thực câu chuyện còn bi thương ai oán hơn cả những bài ca của Chiêm Nữ khóc than cho số mệnh của một dân tộc diệt vong. Lịch sử mở mang bờ cõi của một quốc gia lại cũng là lịch sử mất nước của một quốc gia khác. Vào đầu thế kỷ thứ 16 cách đây 400 năm, Việt Nam chưa hề có đủ ba miền Trung Nam Bắc. Kinh đô Thăng Long lúc đó chỉ có miền châu thổ sông Hồng và đất Thanh Nghệ Tĩnh. Từ Quảng Bình vào miền Nam là đất của Champa. Phần lớn người Việt đều không có cơ hội hiểu rõ về những sắc tộc phải hội nhập vì sinh tồn và đã góp phần vào mạch sống chung của xã hội Việt trong thời kỳ Nam tiến bao gồm cả những giai đoạn từ chiến tranh đến hòa bình.

Khi chúa Nguyễn Hoàng từ bỏ Thăng Long vượt qua đèo Ngang thì đến ngay vùng đất Quảng. Đây không phải là miền đất vô chủ. Tại bốn miền đất Quảng ngày nay ở hai phía Nam Bắc đèo Hải vân Ôđã có sẵn một dân tộc với nền văn minh cổ. Đó là người Champa được gọi dưới nhiều tên khác nhau. Người Chiêm Thành, người Chàm hay người Hời.

Thực ra dân tộc Champa bao gồm tất cả những người sắc tộc Tây Nguyên và người Chàm duyên hải. Đất nước Champa kéo dài từ Đồng Hới, Quảng Trị, qua Đồ Bàn tại Khánh Hòa mà vào đến Đồng Nai, Gia Định. Trên cao nguyên bao gồm cả Kontum, Pleiku xuống Ban mê Thuột.

Trước thế kỷ thứ 15 Champa chịu ảnh hưởng của Ấn Giáo. Sau khi kinh đô Đồ Bàn sụp đổ năm 1471, Champa bắt đầu chịu ảnh hưởng của Hồi giáo du nhập theo các thương thuyền Ả Rập đến miền duyên hải trung phần.

Hôn lễ lịch sử giữa vua Chàm, Chế Mân và Huyền Trân công chúa đời Trần đã lấy đi của dân tộc Champa hai châu Ô, Lý tức là các xứ Quảng ngày nay.

Câu chuyện bắt đầu vào mùa xuân năm Tân Sửu 1301, vua Nhân Tông nhà Trần thăm viếng vương quốc Champa tại kinh đô Đồng Hới. Lúc đó Chiêm Thành là một quốc gia văn minh và thiện chiến tại phương Nam. Để nối tình thân hữu, Trần Nhân Tông hứa gả con gái là Huyền Trân công chúa cho Chế Mân, vua Champa. Năm năm sau, công chúa được rước từ Thăng Long đi đường bộ ba tháng suôi Nam. Chế Mân dâng hai châu Ô, Lý cho Thăng Long để làm lễ cưới. Một năm sau Chế Mân qua đời. Lúc đó vào năm 1307, Tướng Trần khắc Trung đem thủy binh dự tang lễ và đón được công chúa Huyền Trân trở về. Nhà Trần lúc đó mới đưa quan quân vào tiếp nhận hai châu Ô, Lý. CùngÔ một lúc, đợt di dân đầu tiên của người Chàm lui vào miền Nam bắt đầu. Những người Champa ở lại sẽ đồng hóa với dân bắc hà nam tiến để trở thành dân xứ Quảng ngày nay. Mặc dù sử Việt và sử Chiêm có những điểm khác biệt nhưng quả thực câu chuyện hôn nhân vào thế kỷ thứ 13 đã mở đường cho công cuộc Nam tiến 300 năm sau kể từ thế kỷ thứ 16. Khi chúa Nguyễn vào Nam mở nước, một mặt chống đỡ với chúa Trịnh trong 45 năm Nam Bắc phân tranh, và mặt khác xâm chiếm lãnh thổ Champa. Lịch sử Nam tiến của người Việt trong 200 năm từ thế kỷ thứ 16 đến thế kỷ thứ 18 đồng thời cũng là lịch sử của quốc gia Chiêm Thành diệt vong.

Những ràng buộc sui gia giữa hai triều đại từ bao năm đã không cản được bước chân Nam tiến của người Việt. Các triều đại của chúa Nguyễn lần lượt xâm chiếm và đồng hóa dân tộc Champa. Biên cương nước Đại Việt vào giữa thế kỷờ thứ 16 đã trải dài từ Phú Yên đến Khánh Hòa. Sau khi vua Gia Long thống nhất đất nước, vương quốc Champa đặt dưới sự bảo hộ của triều đình Huế.

Đến năm 1832, vua Minh Mạng xua quân xâm chiếm lần cuối cùng và Champa hoàn toàn xóa sổ.

Ngày nay người Việt lưu vong thường nhớ đến Hận sông Gianh, nhớ đến con sông Bến Hải, nhớ đến cuộc di cư 1954, trận di tản năm 1975, nhưng con cháu của dòng giõi Champa thì phải nhớ đến một năm xa xôi hơn nhiều. Đó là năm 1832, năm cuối cùng của cả một dân tộc với ngàn năm xây dựng nền văn minh tối cổ. Đối với dân Việt tự do đang lưu vong dù sớm hay muộn cũng có ngày trở về trên một đất nước không còn cộng sản. Nhưng đối với dân tộc Champa, tất cả chỉ còn là kỷ niệm.

Đó là lý do năm nay tại San Jose, người Champa gồm các sắc tộc thiểu số Tây Nguyên và người Chàm duyên hải tổ chức đại hội gọi là ghi dấu 175 năm xóa sổ của một nền văn hóa.

Những người Champa bình dân và trí thức, người Champa từ Âu châu, Mỹ Châu, Việt Nam, Cam Bốt. Người Champa từ các nguồn gốc khác nhau, từ các xã hội đồng hóa khác nhau sẽ có đại biểu về họp mặt. Phần lớn sẽ dùng Anh ngữ là một thứ Anh ngữ sinh tồn trên quê hương mới nên rất dễ hiểu với tất cả mọi người.

Các đề tài thảo luận là những thách đố can đảm. Những yếu tố nào đã làm đảo lộn nền tảng văn hóa và xã hội Champa. Những dữ kiện nào đã làm trì hoãn phát triển kinh tế và mức sống của dân Champa. Tại sao nước Chiêm Thành không còn nữa. Những giải pháp nào đã áp dụng, và những thành quả nào đã ghi nhận trong việc bảo tồn văn hóa Champa. Đọc những đề tài thảo luận, chúng ta thấy rõ sự can đảm của những người tổ chức. Đang cố sức tìm cách mổ xẻ vết thương đau đớn của cả một dân tộc từ ngàn năm qua. Tại sao một dân tộc có nền văn minh cao độ, một quốc gia hùng cường, một miền đất phì nhiêu tốt đẹp, có các chiến sĩ vượt Trường Sơn cỡi voi ra đánh Bắc Hà, có các thủy thủ vượt biển Đông đánh chiếm Thăng Long. Nhưng rồi lại không giữ được quyền thống trị Đông Nam Á mà lại để mất tất cả. Chỉ còn lại Chế Linh, hậu duệ của anh hùng Chế Bồng Nga với bản Hận Đồ Bàn cùng với Việt nam Cộng Hòa than khóc từ 54 qua 75 cho đến 2007. Năm nay ghi dấu 32 năm người Việt mất miền Nam và 175 năm người Chàm mất cả quốc gia.

Phải chăng vì sắc tộc Champa là những con người bản chất nông dân, chỉ sống hòa bình với cây cỏ, thiên nhiên và đặc biệt là sống với tình yêu như nhạc tình Từ Công Phụng.

Nếu dân tộc Champa chỉ sống với tình yêu, với đất trời hòa bình nhưng lại làm chủ vùng địa lý từ Tây Nguyên đến Duyên Hải, chặn đường Nam Tiến của dân Việt thì trước sau thế nào cũng gặp người như vua Minh Mạng sẵn sàng xóa sổ cả một dân tộc.

Bây giờ, bước qua năm thứ bảy của thế kỷ thứ 21 những người Champa mất gốc gặp người Việt mất nước lưu vong để cùng tham dự hội thảo với đề tài Tại sao trong tình huynh đệ của cộng đi “Tại sao” trong ngoại.

Trong niềm thông cảm sâu xa với những cay đắng của lịch sử, chúng tôi xin hân hạnh giới thiệu ngày đại hội Champa với quí vị thân hữu và truyền thông tại địa phương.

Văn hóa và lịch sử của Việt Nam vốn là một sự bao gồm và hòa hợp giữa các di sản văn minh ngoại nhập và phát triển nội tại.

Chúng ta không phải chỉ có các họ Trần, Lê, Lý, Nguyễn mà đã đủ để làm thành trăm họ Bách việt.

Phải có họ Chế, họ Từ, họ Nông, họ Mạc ...mới đủ bộ để làm thành một đại gia đình dù là ở bên kia hay bên này Thái Bình Dương. Cuối tuần này, xin mời các bạn từ sông Hồng, sông Hương, sông Cửu long hãy đến với những người của kinh đô Đồ Bàn, nghe các sắc dân Tây Nguyên và Duyên Hải hội thảo đề tài tại sao. Xem triển lãm của dân tộc Hời, những người láng giềng của tổng thống Nguyễn văn Thiệu ở Phan Rang. Xem vũ Chiêm Thành, nghe Chế Linh hát Hận Đồ Bàn và đặc biệt nghe Từ công Phụng hát tình ca tặng Huyền Trân Công Chúa.

Chuyện ông vua Chàm ngày xưa say mê nhan sắc công chúa Thăng Long đã được đưa lên sân khấu cải lương Nam Kỳ, có đúng hay không? Hai châu Ô, Lý có phải thực sự là sính lễ hôn nhân hay chỉ là đề tài ngụy tạo cho một cuộc xâm lăng? Những trang sử bên này và bên kia đèo Hải Vân đã khác nhau ra sao?

Tất cả những câu chuyện như vậy, một cách chân thành, người anh em họ Từ như Từ công Phụng,Từ công Thu, Từ công Nhường sẽ kể lại với những vòng tay mở rộng.

Và đặc biệt những tinh hoa văn hóa Champa từ Pháp quốc, từ Đông nam Á và từ các tiểu bang Hoa Kỳ sẽ đến nói chuyện về truyền thống Chàm trong tình tự chân thành, uyên bác và hết sức linh động. Chương trình khai mạc 10 giờ sáng thứ Bẩy ngày 7 tháng 7 năm 2007 tại hí viện Le Petit Trianon trên đường số 5 thành phố San Jose. Sau phần khai mạc là tiếp tân, khánh thành triển lãm, rồi đến hội thảo các đề tài bằng Anh ngữ. Ban tổ chức mời ăn trưa lúc 1 giờ, có chương trình phỏng vấn trực tiếp bằng Việt ngữ. Các đề tài hội thảo tiếp tục đến 7:00 PM. Ban tổ chức mời quan khách ăn chiều và tiếp đến phần văn nghệ Champa từ 8 đến 10PM. Vào cửa tự do, ưu tiên cho các nhân sĩ, hội đoàn và quí vị truyền thông. Xin ghi danh vào buổi sáng.

Giao Chỉ giới thiệu

Dai Hoi Champa trong tinh than dan toc da nguyen da sac toc that dang ung ho.
Toi xin gop vai y :
1- Nam 1069 vua Ly bat vua Cham Pudravarman III nen Cham phai nhuong dat
tu Hoanh Son den Lao Bao de chuoc ve.
2- Nam 1307 vua Tran lay dat tu LaoBao toi HaiVan ( chau O, Ly)
3- Nam 1471 Le Thanh Ton moi dut diem chiem Vijayya la trung tam van hoa chinh tri cua Cham va to chuc thanh Quang Nam, Thang Hoa ( Thua Thien sau nay)
4- .Nam 1832 vua Minh Menh la ong vua rat quyet liet : xoa so Cham, doi ten Thang Long thanh Ha Noi, Kinh Bac thanh Bac Ninh, bac Thanh Hoa thanh Ninh Binh.
5- .Trong 1000 tieng Cham thong dung co toi 200 tu giong tieng Viet, xua nay VN ta cu tranh noi ve lai giong Chiem Thanh, that ra VN la giong da chung : lai Tau, lai Cham, lai Mien...su that lich su nen chap nhan trong ky nguyen song chung nay. Ngay ca vung Nghe Tinh Quang Binh that ra cung thuoc Lam Ap voi giong noi rat dac biet, dan Lac Viet chi vao so it, pha giong ma thoi.

Tran trong cam on
LUU VAN VINH

Thứ Tư, 4 tháng 7, 2007

NHỮNG BÔNG HOA MUỐI

Sáng chủ nhật, chiếc xe nhắm hướng vùng biển La Baule đi tới, ( biển cách Paris 450 cây số). Trên xa lộ vắng xe, nhưng người lái không dám đạp mạnh ga vì sợ radar. Những nơi không để máy thì có cảnh sát nấp đâu đó, chờ người lái nhích lên vài cây số/giờ là thộp ngay. Đến nơi, trời đã xẩm tối và phải đi tìm căn nhà mướn. Khu nhà nằm trong rừng, xa đường xe chạy. Hai bên đường yên tịnh, vắng vẻ, lưa thưa vài căn nhà. Tôi hơi chột dạ, chung quanh toàn là rừng xanh. Thấy trên Internet nhà có hồ tắm, gần biển nên đánh liều làm một chuyến thay đổi không khí, viễn du vùng biển xanh nước mặn.

Phơi nắng như Tây đầm, người Á châu mình ít thích, nếu có thì cũng không nhiều. Thỉnh thoảng đi biển, người viết chỉ ngồi dưới cây dù, không bao giờ phơi nắng, vì da đã ngăm ngăm rồi. Nhưng lần này, lại đổi ý, phơi nắng để biết cảm giác ra sao ! Hai ngày nằm phơi nắng rân rân cơ thể , cảm thấy dễ chịu, bắt đầu thích. Đến ngày thứ ba, da bị đỏ, rát, mặt áo quần vẫn còn nghe đau đau, vào nấp dưới bóng mát cây dù cũng thấy khó chịu, bởi hơi nóng mặt trời. Chịu hết nổi, nhảy ùm xuống biển cho mát, nhưng vừa nhúng chân xuống nước đã vội co chân lên, vì nước biển lạnh như... nước đá, Nhìn quanh, chẳng thấy ai xuống tắm. Biển ở đây thật là kỳ cục, chỉ để cho người ướt chân một cái rồi hối hả vụt chạy lên bờ.

Ngày thứ tư, không ra biển, ở nhà nằm ở bên hồ tắm, nhìn màu nước trong xanh mát mẻ, sáng nào cũng có người lau dọn hồ. Rồi lại nhìn những lùm cây chung quanh, bỗng nhiên tôi nghĩ chuyện đại sự. Hồ tắm ngay giữa rừng, chung quanh hồ có nhiều muỗi, nên tôi nghĩ đến rắn ! Bỗng, một con muỗi rừng chích vào vế một cú, sưng liền, đỏ hỏn, bắt đầu ngứa. Tôi vội vào phòng tiếp tân, chỉ vết muỗi cắn bắt đền cô tiếp tân. Cô cười, coi như là chuyện bình thường, rồi cô đến phòng ăn bên cạnh, lấy muối trộn với dầu ăn, thoa vào chỗ bị muỗi chích ! Tôi nghĩ bụng: Trời! còn xài "thuốc" thời thượng vậy nè ! Nhưng lạ quá ! xức muối vào chỗ mũi cắn vừa đỡ ngứa vừa hết đỏ ngay. Thật tuyệt ! Cô nói, ở đây, cô thường trị muỗi cắn bằng một lọai muối ở vùng Guérande. Tôi nghĩ, muối nào chẳng là muối, cũng từ nước biển làm ra, ở vùng Guérande có gì đặc biệt ? Cô nói, ở Guérande là nơi làm muối cổ truyền. Nghe nói chỗ làm muối là tôi thích ngay lập tức, nên hỏi Guérande ở đâu, có xa không? tôi muốn đến đó. Cô nói, muốn đến đó phải đi theo hướng này, hướng này...

Tôi về "nhà", lấy xe đi đến vùng Guérande ngay. Xe bắt đầu chạy vào làng Guérande theo mũi tên chỉ, đã nghe mùi đất ruộng. Nhìn từ xa, trên những nóc nhà ở vùng này đều có màu vàng, như là mái ngói đang bị "rỉ sét" vì hơi muối. Qua khỏi khu nhà, gặp ngay cánh đồng muối. Những vựa muối, vách tường làm bằng đá, bằng gỗ đen nằm chung quanh trong ruộng muối, khiến người ta dễ nhìn thấy khi đi ngang qua vùng này.

Đến nơi, (khu tiếp khách) cũng là một cửa tiệm, bán đủ các vật lưu niệm tại địa phương và đủ các loại muối. Hột to có, nhỏ có, đủ cỡ, và đủ màu. Màu xám tro, màu hồng phấn, mầu tim tím, màu trắng... Muối đựng trong những bao bố nhỏ, 250 grammes với giá 5 euro, có để thời hạn dùng. Tôi hỏi cô bán hàng: Tại sao muối có màu, và tại sao có hột lọai to, lọai nhỏ. Các lọai muối này, khác nhau chỗ nào khi dùng. Cô bán hàng vui vẻ giải thích: Lọai muối nhỏ dùng để ăn với xà lách, lọai lớn hơn một tí để hầm thịt, lọai lớn hơn tí nửa để rang, khi muối nổ, nát ra là nồi đã đủ độ nóng, lúc đó mới cho thịt vào, ăn mới ngon, vì thịt được giữ lại chất nước. Tôi lại hỏi: Tại sao muối có màu xám, màu hồng ? Cô bán hàng chỉ hộp muối trong bình nói: Hột lớn, màu xám kết tụ bởi dưới đáy. Muối màu hồng, màu cam do những rong biển li ti nằm trong nước biển. Còn bông muối trắng nổi trên mặt nước là do những luồng gió đông thổi tụ lại. Nghe cô bán hàng nói hay quá, tôi mua luôn mấy gói muối đủ màu, mỗi gói gía 5 euro, và ghi tên xin đi coi ruộng muối. Cô bán hàng hẹn ngày mai tôi trở lại. Chính nông dân làm muối ở đây sẽ hướng dẫn. Tôi sung sướng như vừa khám phá ra như một trò chơi mới lạ bất ngờ, sắp được coi những giọt nước đơn sơ trong lòng đại dương, chảy vào ruộng để biến thành muối.

Phong tục, tập quán ở đây là nghề muối, và sự phong phú chính tại đây cũng là nhờ muối. Ngồi trên xe, tôi nếm thử chút muối vừa mua, chất mặn vừa phải dễ chịu, không cảm thấy chát, mặn như các loại muối khác có một cái gì đó như châm chích vào lưỡi.

Hôm sau, tôi và một số khách khác, được anh hướng dẫn làm tại đây đưa đi xem ruộng muối. Trong ruộng muối, có những lọai cây cỏ thiên nhiên mọc chung quanh. Người dân ở đây khi dùng món xà lách, trộn chung lọai rau này vào, vì những lọai rau này, có chất mặn như muối. Anh hướng dẫn bắt đầu câu chuyện về muối. Ngày xửa ngày xưa, những người dân ở vùng bờ biển này, là nhân chứng bao lần bão tố, bao nhiêu lần thủy triều dâng, khi nước thủy triều rút, dưới ánh nắng mặt trời chiếu vào những vũng nước cạn trong hốc đá, người ta thấy có một lớp muối trắng thiên nhiên . Kể từ đo,ù người ta bắt đầu làm muối thiên nhiên bằng những ô vuông trong ruộng muối .

Những ruộng muối tại vùng Gúerande này đã có từ 2000 năm nay. Thành phố này đã lấy tên đó đặt cho những ruộng muối trên một cái đồi, có độ cao 52 thước. Vào khỏang trước thiên Chúa giáng sinh, trước kỷ nguyên đó, vùng đất này đã là một cái vịnh cách biệt lục địa, cô lập với đại dương. Vịnh có hai mạn đất cát, và ở đây có 125 khối đá lớn, được dựng lên thành hàng màu trắng, với những cái tên khắc trên đá, để chứng tỏ vết tích của giống dân tụ lại rất đông, trong thời kỳ khai thác muối. Ở tại đây, những nhà khảo cổ cũng đã tìm thấy những cây gươm, dao, rìu, nữ trang.. .

Anh hướng dẫn nói: Ruộng muối này rộng 20 triệu mét vuông, với những ô vuông nhỏ hình chữ nhật được phủ một lớp nước biển. Mực nước trong ô vuông cao khỏang 4 cm. Dưới đáy là đất sét để giữ hơi nóng, nhiệt độ nước khi lên đến 37 độ C , lúc đó muối tụ lại 400 grammes trong một lít nước biển ( bạn lấy lấy 400 grammes muối hoà trong một lít nước, sẽ biết độ mặn của nó như thế nào). Công việc làm muối coi tuy dễ, nhưng khá rắc rối và phức tạp, qua một hệ thống đem nước từ biển vào ruộng.

Trung bình người nông dân làm muối, 10 tiếng một ngày. Họ làm muối bốn mùa, phần thu họach trong vòng ba tháng. Tháng 2, và tháng 5 họ "quét" dọn sạch sẽ, vớt cho hết những chất dơ bám vào đất sét, trước khi cho nước biển chảy vào. Họ chùi rửa sạch sẽ trên bờ, từ ô bên này, và ô bên kia. Mỗi 15 ngày, nước dâng, tràn vào trong những đường nước nhỏ, rồi rải quanh để vào những ô vuông nhỏ, người ta phải canh đều mực nước khỏang 4 cm. Lúc đầu, nuớc bốc hơi, muối có 20 grammes/lít. Sau nhiều lần nước bốc hơi, dung lượng muối mỗi lúc mỗi tăng. Đầu tháng 5 giữa tháng 6, người ta canh độ muối, từ ô này, đến ô kia, không để nước bên ô này, tràn qua bên ô khác. Người ta làm "chết" vết nứt trên bờ đê muối, bằng một lọai sình rất mặn, và tuyệt đối giữ không cho đất dính vào.

Muối làm tháng 6 và tháng 9, trường hợp đặc biệt thì kéo tới tháng 10. Nông dân lo hớt những chất sình và rong rêu bỏ đi, và họ bảo vệ những đập nước bằng cách, canh chừng, và đắp đất bùn thường xuyên. Nhưng đôi khi rất cực vì có những cơn bão làm vỡ đập nước. Trong muối có hai lọai, loại nặng chìm xuống dưới, lọai nhẹ nổi trên mặt nước. Hớt muối ở trong mỗi ô vuông, mỗi ngày được 50 ký, dụng cụ là một cây gỗ dài 5 thước. Lớp muối trôi nhẹ phía trên, người ta gọi là bông muối, lọai muối này được gọi là muối đặc biệt, vì có mùi thơm của bông hoa tím, đặc biệt hơn nữa là muối vùng Guérande thơm hơn các vùng khác, vì là nước biển Đại tây dương có một lọai cây dưới nước tỏa ra hương thơm của nó. Nước đến từ đại dương chảy vào ruộng muối và từ từ biến đổi. Nước xanh, đổi thành một lọai nước màu hồng, ảnh hưởng bởi những sợi rong li ti tạo ra màu. Lọai rong này, cho mùi thơm của hoa tím, tạo sự đặc biệt cho muối của vùng Guérande.

Trong những ngày mùa nắng ráo, những người nông dân làm muối, luôn luôn làm việc đúng giờ, cũng như đến điểm hẹn. Họ đi chân trần để không làm hư những bờ đê làm bằng đất sét, giữa những ô vuông muối. Chính yếu của sự thâu họach này là những hột muối lớn, có kích thước khác nhau.

Anh hướng dẫn viên nói tiếp, khi chúng tôi chăm chú nghe một cách say sưa : Nước biển là sản phẩm đầu tiên do những người nông dân lấy để làm muối trong một hệ thống lấy nước từ thế kỷ thứ 9. Ngày xưa, người ta đã biết cách làm muối rất tinh vi, lối làm việc từ đó đến bây giờ vẫn không thay đổi. Và những bông muối này đã mất đi từ thế kỷ 18, bởi những người làm kỹ nghệ muối. Bao nhiêu thế kỷ qua, vùng Guérande vẫn không thay đổi cách làm việc, còn giữ lại những bông muối cổ truyền bằng những ngọn gió. Người ta vớt nó phải vớt thật nhanh, nếu gặp gió mạnh, những bông muối mỏng manh này sẽ rơi chìm xuống đáy.

Thường thường, khi vớt những bông hoa muối này, đàn bà dành làm và dành lấy hết, như một cách để kỷ niệm về những người đàn bà ngày xưa, họ lấy bông muối thay cho tiền lương. Sư thâu họach những bông hoa muối này, hiện bây giờ chỉ có được 1% trên thị trường sản xuất muối. Nghề bông muối cổ điển này, coi như là một thủ công nghiệp ở vùng Guérande. Cứ 20.000 ký muối, mới có 20 ký bông muối. Ngày nay có tới 67 % người ta biết đến muối của vùng Guérande. Muối Guérande nổi tiếng này luôn luôn tiếp tục giữ phẩm chất tốt trong thủ công nghệ muối.

Ngày nay, người dân ở vùng Guérande tương đối dễ sống, vì có tiền lương khá. Mỗi năm có hàng trăm người ghi tên và để học nghề làm muối. Tại trung tâm huấn luyện muối tại đây, cứ 100 người ghi danh, chỉ có 15 người được nhận, để nối tiếp công việc của người xưa để lại. Mỗi năm, trong mùa đông, có 500 ô vuông trong ruộng muối được "hồi sinh " để những người trẻ khai thác khi hè đến. Bây giờ, có hơn 7000 ô vuông muối, được khai thác bởi 230 nhà sản xuất. Trung bình mỗi năm được 10 triệu ký muối, có năm đặc biệt (1976), lên đến 25 triệu ký. Những năm không có mặt trời, số muối chỉ có 300.000 ngàn ký. Năm 1997, đàn ông cũng như đàn bà làm muối ở đây, có thêm một họat động phụ, ngòai việc chính là nghề muối, họ còn làm việc tại các trường học, để các em nhỏ biết sự họat động của nghề muối, và sự sống ở đây là nghề muối, để các em tôn trọng môi trường thiên nhiên ở vùng này .

Nếu có biển thì người ta sẽ có muối. Trong đất cũng có những mỏ muối.

Thể tích của nước biển được ước lượng: 1 nghìn 370 triệu mét khối, trên 370 triệu cây số vuông trên đại dương. Người ta cho rằng, muối của biển đến từ những tảng đá của núi, và muối cũng do từ núi lửa, và do sự rạn nứt của quả đất. Muối của nước biển, trung bình là 30 grammes/lít, nhưng độ mặn này tùy theo vĩ tuyến của quả địa cầu, và tùy theo thời tiết. Biển Địa Trung Hải có độ mặn cao hơn trung bình. Biển chết có độ mặn gấp 10 lần nước biển bình thường, lên tới 300 grammes một lít .

Người ta ước tính, nếu nước biển trên các đại dương bốc hơi để biến thành muối, thì số muối đó có thể phủ lấp hết cả diện tích quả đất, với độ dày 37 thước. Chưa kể các vùng lục địa, có những mỏ muối ngầm dưới đất, và những mỏ muối ngầm nằm cách xa biển , có khoảng 100.000 cây số khối về các mỏ muối này. Điều khó nhất, làm sao khai thác những mỏ muối trong lòng quả đất ! Mỏ muối trong lòng quả đất là kết quả của những sự kết tinh, các biển hồi xa xưa bị khô. Những "núi" muối ở trong lòng đất, không có tính chất giống như muối ở biển, bởi muối của biển có nhiều khoáng chất, kim loại, sắt, đồng, kẽm, magnésium...làm tốt cho cơ thể. Muối tham gia vào cuộc sống, muối có nhiệm vụ giữ thăng bằng, chất lỏng trong cơ thể . Nhiều muối quá thì tim sẽ đập lọan, không đủ muối thì người sẽ bị khô nước. Một lít máu trong người, chứa khỏang 6 grammes muối/ lít.

Muối là một gia vị quá bình thường cho các món ăn hàng ngày mà người ta không để ý tới, nhưng có một phần quan trọng nào đó cho đời sống của con người.

Bích Xuân
bichxuanparis@yahoo.com

Thứ Sáu, 29 tháng 6, 2007

QUÊN

Quên là một điều ích lợi. Đầu óc chúng ta như cái hộp, chuyện nọ chuyện kia theo năm tháng bị dồn vào đầy hộp, chỗ đâu để nhớ những chuyện mới? Nhưng đầu óc chúng ta không giống như cái hộp thư trên internet. Khi hộp thư đã đầy thì những bức thư cũ tự động bị delete cho những bức thư mới có chỗ tá túc. Đầu óc chúng ta delete có điều kiện. Những gì đáng nhớ, chúng ta nhớ. Những gì đáng quên, chúng ta quên. Rắc rối xẩy ra là cái nào đáng nhớ, cái nào đáng quên. Những cái chúng ta muốn các bà xã quên đi thì các bả lại nhớ đời. Những cái các bà muốn các ông phải nhớ thì các ông... delete cái một!

Muốn khỏi quên, trí óc chúng ta cần được nhắc lại. Muốn học bài cho thuộc phải ôn đi ôn lại. Mỗi lần ôn là bài học thấm vào đầu chúng ta thêm một chút. Cứ lai rai như vậy là khó quên. Cũng khó quên là ngày sinh nhật của người yêu. Ngày N còn xa mà bụng đã bàn với cái túi tiền chọn quà chọn cáp. Khi đã rước được nàng về dinh rồi thì sinh nhật nàng trở thành ngày khó nhớ. Đó là một trong những điều khó hiểu của bộ nhớ trong đầu chúng ta.

có khi tưởng đất ngậm ngùi
những sáng sương khói chào đời sống lên
có khi anh tưởng tình yên
mà câu hát cũ chợt quên chợt hoài
(Nguyễn Nam An)

Quên hay nhớ là bệnh của người. Cái bệnh khôn vặt. Nhưng quên hung là bệnh của người già. Bệnh thật chứ không phải bệnh giỡn. Bệnh nó nằm ngay trong đầu, đúng ra là trong bộ não. Cứ tưởng tượng não của chúng ta như bộ máy của chiếc xe Mercedes chẳng hạn. Máy xịn, khỏe, chạy re re ngon lành. Nhưng chạy mãi thì cũng có ngày nó oải. Đề máy thì cứ ậm à ậm ực không chịu... ca vui gì cả. Máy oải sớm hay muộn tùy người chủ xe. Nếu xe được ăn dầu nhớt đàng hoàng, máy móc được kiểm soát đúng hạn kỳ, hư đâu sửa đấy cái rụp thì máy không phản ta. Tuổi già cũng dĩ nhiên phải... lão. Những giao điểm thần kinh có nhiệm vụ báo động những trạm trung chuyển thần kinh trong đầu chúng ta cũng rỉ sét với thời gian. Não chúng ta ít bén nhậy hơn. Vào khoảng 25 tuổi, não của chúng ta trong tình trạng... xịn nhất. Những tế bào thần kinh trong não của chúng ta được thay thế hoài. Mỗi tế bào cũng có tử có sinh. Cái sinh thay thế cái tử. Cái không được dùng hay ít được dùng cũng bị loại đi. Sự tử sinh này diễn ra ngay cả khi con người chưa chui ra khỏi bụng mẹ, còn là cái bào thai.

Khi có tuổi, chúng ta trở nên chậm chạp hơn. Nhìn dáng người đi đứng, chúng ta có thể thấy được tuổi già. Nó nặng nề lắm. Nhìn bề ngoài đã vậy, bề trong cũng rứa. Đầu óc chúng ta cũng... già. Già thì chậm nhưng già cũng tích lũy được nhiều kinh nghiệm, trội về kiến thức tổng quát và thái độ ứng xử. Trẻ thì nhanh hơn già, điều đó khỏi phải ngôn. Nhà tâm lý thần kinh Gabriel Léonard đã thử làm thí nghiệm với hai lớp tuổi: lớp tuổi 16 và lớp tuổi 77. Qua những câu trắc nghiệm thử trí thông minh và tài ứng xử, ông nhận thấy những người già hơn những người trẻ về khả năng đọc hiểu, giầu ngữ vựng. Trong một câu trắc nghiệm về đánh đồng những con số và một chuỗi những biểu tượng, cả hai nhóm đều làm được nhưng nhóm trẻ làm nhanh hơn. Nhóm già chậm vì phải tốn nhiều thời gian hơn khi mở những ngăn kéo của trí nhớ để tìm một chữ, một cái tên hay một ngày tháng nào đó.

Chậm chạp nhiều hay ít tùy thuộc vào tuổi tác, dĩ nhiên, nhưng cũng do sức khỏe tinh thần của chúng ta. Bà bác tôi, hiện sống ở Saigon, chỉ thiếu có 3 năm nữa là đầy trăm tuổi. Vậy mà trí nhớ vẫn minh mẫn lạ thường. Bộ nhớ của bà hết xẩy! Bà vẫn nhớ vanh vách ngày sinh tháng đẻ của gần hết người trong họ hàng gần xa. Những sự kiện xẩy ra trong quá khứ vẫn được bà kể lại từng chi tiết lại còn phụ họa thêm ngày tháng chính xác như thường. Những người trẻ hơn bà, thua xa! Phải chăng, như bộ máy của chiếc Mercedes, bà chịu khó châm dầu nhớt đều đều? Dầu nhớt đó là gì? Ăn uống kiêng cữ? Thể dục? Chơi ô chữ?

Tới tuổi lão là chúng ta hay quên. Đang nói chuyện ngon trớn, bỗng khựng lại, quên bẵng hẳn một cái tên rất quen thuộc rõ ràng mới nhớ đây. Phải nghiệm một hồi, cầu viện tới những liên tưởng, trí óc chúng ta mới bật ra được cái tên đó, một cách muộn màng. “Tôi vừa định nói với anh cái gì mà tự nhiên quên hẳn mất!” Đó là câu than thở quen thuộc của các... quên sĩ. Cái quên nó như một bàn tay ma, dí vào một cái là làm trắng xóa đầu óc. Thua! Kinh nghiệm đau thương này, cứ nhai được cơm hơn nửa thế kỷ, hầu như mọi người đều có, tuy nhiều ít khác nhau. Nó là chứng cớ đáng ghét của việc sa sút trí nhớ. Muốn khỏi sa sút, cần luyện tập. Tôi có cách luyện tập riêng, chẳng khó khăn gì, chắc nhiều người cũng đã làm như vậy. Mỗi khi ngồi rảnh rỗi, tôi cố nhớ lại những sự kiện xảy ra trong quá khứ, càng xa càng tốt. Chẳng hạn như ngày này tuần trước mình làm gì, ngày này tháng trước mình có chuyện gì, khoảng thời gian này năm ngoái mình đang ở đâu? Việc này xẩy ra trước hay sau việc kia? Sinh nhật năm ngoái tổ chức ở đâu, có những ai tham dự, ăn món gì? Lối “thể dục” này bắt óc não làm việc, tạo được một trí nhớ tốt.

Kém trí nhớ, vô cùng phiền hà. Cứ hở với hả làm con cháu phát chán! Mất trí nhớ đúng là một cái tội. Nó... Alzheimer’s! Bệnh Alzheimer’s chuyên chơi những người già. Càng già càng Alzheimer’s dữ! Tại Canada, theo tuổi tác, số người mắc bệnh tăng theo cấp số cộng cho mỗi 5 năm tuổi. Tuổi 60, 1%; 65, 2%; 70, 4%; 75, 8%; 80, 16%; 85, 32%; 90, 64%! Nói cho cụ thể thì tới tuổi 90, cứ 3 cụ thì có 2 cụ chơi với anh Alzheimer’s! Vậy mà ở Canada hiện nay có hơn 4 ngàn cụ trên trăm tuổi. Những tiến bộ về y học sẽ đẩy con số các... Bành Tổ này tăng lên nữa trong tương lai. Người ta ước lượng 15 năm nữa, con số các cụ trăm tuổi sẽ tăng gấp đôi!

Alzheimer’s, “chân dung” hắn ra sao? Aglia Zavliaris có một bà mẹ rất mê shopping. Cửa hàng nào tọa lạc tại chỗ nào, cụ chẳng bao giờ quên. Bước chân vào một shopping center, cần tới tiệm nào, cụ tới cái một, chẳng cần bản đồ bản điếc gì cả. Rồi có một ngày, Aglia nhận thấy ở mẹ có những điều hơi lạ trong cách cư xử, khả năng ứng phó, khả năng hồi nhớ. Nhưng Anglia nghĩ rằng chẳng có gì quan trọng. Già cả, ai cũng vậy! Một buổi tối ngồi coi TV ở nhà, trên màn ảnh là một phim quen thuộc cụ đã coi đi coi lại nhiều lần. Tới một cảnh đánh nhau, cụ bỗng sợ một cách lạ lùng, sợ đến chết được. Rồi dần dần những con số, thời gian, ngày tháng ra khỏi trí nhớ của cụ. Cho tới một ngày, cụ ra mua đồ ở một tiệm tạp hóa gần nhà, cụ bỗng quên đường về! Gia đình đưa cụ đi bệnh viện, thay nhau săn sóc, nhưng cụ càng ngày càng quên dữ. Cho tới ngày cụ quên không nhớ... đi. Đành phải gửi cụ vào nhà săn sóc đặc biệt. Cụ mất vào năm 1997.

Mẹ tôi mất vào đúng ngày lễ Giáng Sinh năm 2002. Cũng Alzheimer’s! Năm 1995, sau mười năm xa nhà, tôi trở về. Mẹ tôi rạng rỡ nắm lấy tay tôi giọng lạc đi. Thằng S. nó về thật đây này! Mười năm trước, tôi ra đi, không bao giờ nghĩ là lại có ngày trở về thăm gia đình được. Ngày tôi đi, mẹ tôi trốn vào trong phòng, không dám nhìn tôi dắt díu vợ con rời khỏi nhà. Bà là người cả nghĩ. Con cái từng đứa cứ rời bà ra đi tìm đất sống. Bà vẫn thường nói: đó là do cái chế độ đang cai trị đất nước đẩy chúng ra đi. Đi được đứa nào, mừng cho đứa đó. Nhưng trong thâm tâm, bà vẫn luôn luôn mang lòng oán hận chế độ. Thời buổi nhố nhăng làm gia đình tan tác! Bà nuốt nỗi buồn vào trong. Những ngày tôi trở về, quanh quẩn bên bà, mẹ tôi hay kể chuyện đời xưa. Có những chuyện bà kể đi kể lại mà lúc nào cũng tưởng như đang kể lần đầu. Có những chuyện bà lẫn chi tiết từ chuyện này qua chuyện khác. Bà đã lẫn! Cũng tròm trèm tám chục tuổi rồi! Đối với người già, lẫn lộn là chuyện thường. Tôi ra đi lại.

Sáu năm sau, tôi trở về lần thứ hai. Lần này thấy rõ ràng bà bị Alzheimer’s. Cách xử sự, lối nói chuyện của bà vẫn như có vẻ tỉnh táo. Tôi mang về những sấp vải may áo dài có màu sắc nhu mì và những nét vẽ đơn sơ, thứ mà từ xưa tới giờ bà vẫn thích, bà hớn hở ôm vào lòng. Khi tôi đưa bà một tấm áo len màu hơi tươi, bà không thích, trả lại, nhất định không lấy. Đưa cho bà bao nhiêu kẹo chocolat, bà cười vui vơ hết. Bà vốn thích loại kẹo này. Có điều, biết là có người thân từ ngoại quốc về, biết những món quà này là... hàng ngoại, thứ bà vốn ưa, nhưng bà không nhận ra tôi là ai. Em tôi hỏi, bà chỉ bảo thấy quen quen! Trong những ngày gần bà, tôi cố nhắc lại những chuyện xưa, nhấn mạnh tới những chi tiết bà thích, bà vui vẻ bắt chuyện. Tôi gợi lại những kỷ niệm cũ giữa hai mẹ con mong dắt được bà tới chỗ nhận ra tôi là con. Vậy mà vô ích. Có điều là khi tôi đi chơi bao giờ bà cũng ra đứng ở cửa như có ý chờ tôi về. Khi tôi về, bà mừng. Tôi nghĩ là trong một góc ký ức nào đó, bà vẫn biết tôi là người thân, rất thân thuộc, nhưng quên không biết tôi là ai. Chị tôi, em tôi, các cháu tôi, những người quanh quẩn bên bà hàng ngày thì bà vẫn biết. Bà cô tôi, thường hay chơi bài với bà ngày trước, dù ở mãi tận Ban Mê Thuột, thỉnh thoảng mới về thăm bà, bà cũng vẫn biết. Thấy tình cảnh như vậy, bà cô tôi đã thử làm một cuộc trắc nghiệm. Bà kéo tôi lại ngồi gần, hỏi mẹ tôi:

“Chị có biết thằng S. không?”

“Biết chứ sao không?”

“Thằng S. bây giờ ở đâu?”

“Nó ở bên Mỹ!”

“Thằng S. con ai chị có nhớ không?”

“ Con tôi chứ con ai!”

Bà cô tôi, chỉ vào tôi.

“Thằng S. nó đây này.”

Mẹ tôi, mặt rầu rầu, buông một câu:

“Cô này chỉ nói giỡn!”

Tôi ở trong nhà, đi ra đi vào, bà cứ nhìn theo. Đôi lúc bà nói đùa, như ngày xưa bà vẫn thường hay khôi hài. Cái ông này cứ ở đây hoài! “Cái ông này” là ai, bà không biết. Ngày lại phải ra đi, tôi nói với bà.

“Tối nay con phải đi rồi mẹ ạ.”

“Ông đi đâu?”

“Con về lại Mỹ.”

Bà cười vang lên.

“Mỹ nào nó thèm lấy ông mà về!”

Có lẽ, trong đầu óc bà, vẫn là thời gian ngày xưa. Đi Mỹ, chỉ có những người lấy chồng Mỹ! Đúng một năm sau, tôi trở về lại, để ôm tấm hình bà dẫn đầu đám tang!

Ở Canada có 238 ngàn người bị Alzheimer’s. Mỗi năm chính phủ phải chi ra gần 4 tỷ đô cho căn bệnh này. Người bị Alzheimer’s trải qua từng giai đoạn: nhẹ, trung bình và nặng. Có khi giai đoạn này chồng lên giai đoạn kia. Việc chữa trị không nhắm vào việc chữa dứt căn bệnh mà cố giữ sao cho bệnh nhân ở giai đoạn nhẹ lâu chừng nào tốt chừng ấy. Những thứ thuốc trị bệnh ngày nay như Aricept, Exelon và Reminyl, tuy có tác dụng hơi khác nhau, nhưng cùng nhắm vào việc tăng thêm lượng acetycholine trong não. Những nghiên cứu cho biết là thứ hóa chất cần cho trí nhớ này có rất thấp nơi những người bệnh Alzheimer’s. Một thứ thuốc mới, Memantine, giúp giữ glutamate, một hóa chất khác cần cho não, đã được dùng để trị bệnh mất trí nhớ từ nhiều năm nay tại Âu Châu, nay mới được chấp thuận dùng ở Mỹ. Tuy vậy, Canada vẫn chưa gật đầu công nhận. Memantine giúp làm giảm “tiếng động” trong hệ thống não, xóa đi “sương mù” trong đó. Người ta chưa chắc nó có thay đổi được sự sống còn của các tế bào não không nhưng nó tỏ ra hữu hiệu trong các giai đoạn Alzheimer’s từ trung bình tới nặng. Những loại thuốc này làm người ta tin tưởng hơn vào việc làm giảm được bệnh Alzheimer’s. Những người già, nhờ sự tin tưởng này, đã chịu khó đi khám bệnh thường xuyên hơn. Thường thì bệnh đã nằm vùng từ ba đến năm năm trước khi được phát hiện ra. Sự mù mờ của thời kỳ tiềm ẩn bệnh này làm người chung quanh không hiểu được người bệnh. Hậu quả thật thảm thương. Cách cư xử thay đổi khác thường của người bệnh mà chưa biết là bệnh có khi đã dẫn tới ly dị, xa lánh và làm người bệnh bị trầm cảm. Bà Hilda, một thương gia rất xông xáo, đã nhuốm Alzheimer’s. Bà rất phẫn uất khi bị thu bằng lái xe, một biểu trưng cho sự độc lập của bà. Nhưng điều làm bà đau khổ hơn là không ai hiểu bà. “Tôi ước được biết cách làm sao giải nghĩa cho những người thân và bạn bè của tôi để họ hiểu được là sự mất trí trong những khoảng thời gian ngắn của tôi làm tôi cảm thấy như thế nào. Đừng bảo tôi phải làm thế này thế kia, nhưng hãy cầm lấy tay tôi!”

Quên đi nhớ lại tức cười,
Một con cá lội mấy người buông câu.
(Ca dao)

Đời sống chẳng bao giờ hứa hẹn một sự phẳng lặng. Con người luôn ở trong tư thế trừng mắt nhìn nhau. Tranh dành, xô đẩy, kèn cựa, lừa lọc... Đó là những thực phẩm trần gian! Quên là một cách tạm lách ra khỏi những nhọc nhằn để tìm cho mình một khoảng trời xanh. Nhưng có những điều chẳng thể quên, mà cũng chẳng muốn quên. Những thân phận bềnh bồng ngoài xứ sở có bao giờ nguôi được tấc lòng vọng về cố hương?

ta lạ đất trời, thương cố thổ
trăng buồn đâu thể giữ màu xưa
có khi xót đắng không vì rượu
lòng cứ trầm mê điệu tiễn đưa...
(Hoàng Lộc)

Song Thao

Thứ Hai, 25 tháng 6, 2007

Ý Thức Cộng Đồng và Số Phận Cá Nhân (Nhìn Lại Bi Kịch của Chí Phèo)


Sinh 1972, Nguyễn Thị Từ Huy thuộc thế hệ phê bình trẻ của Việt Nam hôm nay.

Trước hết, cần xuất phát từ việc nhìn lại cấu trúc thời gian và kết cấu của truyện ngắn này.

Tác phẩm mở đầu bằng cái buổi chiều Chí Phèo uống say và lên cơn chửi. Buổi chiều đó kéo dài qua những đoạn hồi cố nhằm dựng lại cuộc đời Chí, trượt xuống thành buổi tối khi cái bóng xệch xạc dưới trăng làm hắn quên ý định báo thù, nảy sinh từ sự vô vọng của tiếng chửi, và rẽ vào nhà Tự Lãng. Sau cuộc rượu với kẻ tri kỷ cuồng, đêm đó hắn gặp kẻ tri âm của đời mình: Thị Nở. Sáng hôm sau hắn tỉnh, không chỉ là tỉnh khỏi giấc ngủ đêm hôm trước, mà tỉnh khỏi cơn say mênh mông suốt đời hắn, tỉnh khỏi kiếp sống sinh vật, kiếp quỷ dữ. Hắn buồn và hồi tưởng lại những mơ ước thuở xa xưa. Hắn ốm, bát cháo hành của Thị Nở mang lại cho hắn sinh lực, hạnh phúc và hy vọng về tương lai. Hắn tìm thấy lại ý nghĩa của cuộc đời, muốn làm hoà với mọi người.

Thời điểm đó, vào cái buổi sáng hôm đó, hắn hoàn toàn không còn là Chí Phèo trước đây nữa. Hắn đã là một ý thức đầy đủ về giá trị và thân phận của mình. Và năm ngày tiếp theo, quãng thời gian sống trong tình yêu với Thị Nở, hắn đã làm một người lương thiện thực sự. Câu chuyện về Chí dừng lại ở cái buổi trưa ngày thứ sáu, sau khi bị Thị Nở chối từ, Chí Phèo giết Bá Kiến và tự vẫn. Nhưng tác phẩm chỉ thực sự kết thúc với những lời bàn tán xì xầm của làng Vũ Đại và thái độ của Thị Nở một ngày sau khi Chí chết.

Như vậy, Chí Phèo - con quỷ dữ và quá trình biến thành quỷ dữ đã thuộc về quá khứ, còn hiện tại của câu chuyện được mở ra từ cái thời điểm khởi đầu cho sự hồi sinh của Chí, cũng là khởi đầu cho một kết thúc đau đớn sẽ đến kề ngay sau đó.

Do vậy, quá trình lưu manh hoá người nông dân và trách nhiệm của cái nghèo trong việc huỷ hoại nhân cách họ sẽ dễ dàng bị gạt sang một bên khi chúng ta bàn đến nhiệm vụ nghệ thuật cơ bản của tác phẩm. Còn lại, những vấn đề: bi kịch của con người bị từ chối quyền làm người, bi kịch của con người với môi trường thiếu nhân tính, khát vọng đổi đời, khát vọng hoàn lương, vấn đề quyền sống...tất cả có lẽ đều liên quan đến cái chết và câu hỏi của Chí: "Ai cho tao lương thiện?"

Ai cho Chí Phèo làm người lương thiện? Câu hỏi này xưa nay vốn đã tưởng tìm thấy câu trả lời chính xác và dứt điểm ở các thế lực là cơ chế xã hội, cường hào ác bá và định kiến xã hội. Thực ra câu trả lời không hoàn toàn đơn giản như vậy. Tính chất phức tạp là ở chỗ câu hỏi đó đáng ra trước tiên Chí Phèo phải tự đặt ra cho mình chứ không phải cho Bá Kiến. Chí Phèo không chỉ là bi kịch của con người bị từ chối quyền làm người, hơn thế còn là bi kịch của con người tự từ chối quyền làm người. Anh ta phải chịu một phần trách nhiệm về cái chết của mình, một cái chết không hoàn toàn nâng cao anh ta, mà ở một khía cạnh khác, còn cho thấy sự bất lực của anh ta.

Là một nghệ sĩ chân chính, Nam Cao đã nhìn thấy những nguy cơ ẩn giấu trong cái đặc tính vốn từng làm nên sức mạnh của dân tộc: ý thức cộng đồng.

Thời đại Nam Cao, ý thức về con người cá nhân có điều kiện phát triển. Các nhà thơ mới công nhiên phô bày, khẳng định cái tôi cá nhân. Văn học lãng mạn đòi giải phóng cá nhân bằng cách đưa ra những mẫu người có bản lĩnh, dám đối lập với toàn bộ xã hội, dám bảo vệ cá tính riêng, chấp nhận đơn độc trong những lựa chọn của mình. Nam Cao lặng lẽ ủng hộ cuộc đấu tranh đó bằng một cách khác, bằng cách chỉ ra rằng: nếu quá lệ thuộc vào cộng đồng, con người sẽ tự thủ tiêu mình; và nếu cộng đồng cho phép mình can thiệp quá sâu vào đời sống của mỗi cá nhân, nó sẽ huỷ diệt cá nhân đó.

Chí Phèo thực chất là bi kịch về sự yếu đuối của cá nhân trước sức mạnh của ý thức cộng đồng. Ý thức này vừa là áp lực bên ngoài vừa là một phần trong thẳm sâu con người Chí, nó khiến Chí bị khuất phục trước cuộc sống.

1. Từ nỗi sợ cô đơn....


Ngay đoạn mở đầu truyện, Nam Cao đã triệt để bóc trần cái đời bị loại trừ một cách tuyệt đối của Chí Phèo, thân phận bị bỏ rơi, quan hệ giữa hắn với cộng đồng, nỗi khốn khổ, sự cô độc mà hắn phải gánh chịu. Tiếng chửi xác định thế đối lập của hắn với toàn bộ xã hội, toàn bộ nhân thế và toàn bộ vũ trụ. Sự thu hẹp dần phạm vi đối tượng chửi (hắn chửi trời, chửi đời, chửi tất cả làng Vũ Đại, chửi những đứa nào không chửi nhau với hắn, và cuối cùng chửi đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn) bộc lộ tình thế bi đát của một cá nhân bị cô lập. Bị chính những người đẻ ra bỏ rơi, Chí Phèo chỉ còn mối liên hệ duy nhất với cộng đồng làng Vũ Đại, chính cộng đồng đó đã cho hắn cơ hội trưởng thành, dù là với thân phận đi ở. Nhưng sau khi ở tù về, mối liên hệ ấy đã hoàn toàn bị cắt đứt. Quan hệ của Chí với cộng đồng, từ đó được thiết lập trên sự đe doạ, cướp giật, hắn dùng sức mạnh để áp chế, cưỡng bức cộng đồng phải chịu hắn. Và Chí Phèo, mặc dầu trong cơn say triền miên vô tận, không ý thức được những việc mình làm ("hắn đâu biết hắn đã phá bao nhiêu cơ nghiệp, đập nát bao nhiêu cảnh yên vui, đạp đổ bao nhiêu hạnh phúc...Hắn đâu biết vì hắn làm tất cả những việc ấy trong khi người hắn say") (tr.38) vẫn không thể chấp nhận được tình trạng bị bỏ rơi, hắn vẫn muốn được là thành viên của cộng đồng, ý thức ấy đã ăn sâu vào máu hắn.

Trong nỗi sợ cô đơn, hắn tìm cách xác lập lại mối liên hệ đã bị cắt đứt bằng những phương thức giao tiếp tuyệt vọng: la làng, ăn vạ, chửi.

La làng là một phản ứng quen thuộc khi một người gặp nguy hiểm, cần sự trợ giúp của cộng đồng. Khi ăn vạ, người ta cũng la làng để tìm sự ủng hộ ngầm và để làm mất mặt người bị ăn vạ (người ta chỉ mất mặt khi nhược điểm của mình bị bóc trần trước mắt những người khác, từ quan niệm này nảy sinh thói sĩ diện hão, tin rằng những đánh giá của cộng đồng làm nên nhân cách của mình) nhằm dễ dàng phạt vạ người đó. Chí Phèo kêu làng không phải để tìm sự trợ giúp mà tìm sự đồng loã. Hắn cần được chứng kiến, cần được thể hiện sự tồn tại của mình trước mọi người. Đó là điều mà Thị Nở đã không hiểu được khi hắn vừa dằn thị xuống vừa kêu làng. Trong vô thức hắn sợ cô đơn đến mức, ngay cả trong hành động riêng tư nhất có thể hắn cũng muốn có sự chứng kiến của người khác. Chi tiết này của Nam Cao cho phép liên tưởng đến Kafka. Ở phương Tây, những năm hai mươi, trong thế giới của Kafka, cô đơn là "giá trị quý báu nhất đang bị nghiền nát bởi cái áp đảo hiện diện ở khắp nơi"1. Nguy cơ của con người là ở chỗ cái riêng tư không còn được bảo vệ khi anh chàng K. lúc nào cũng bị hai phái viên của lâu đài cặp kè, cả trong lúc ngủ với vợ. "Sự cô đơn bị cưỡng hiếp" 2 làm nên sức ám ảnh cho tác phẩm của Kafka. Sau đó hai thập kỷ, ở Việt Nam, trong thế giới Nam Cao, cô đơn là thứ đáng sợ nhất đối với anh Chí làng Vũ Đại. Chí bám vào cộng đồng như bám vào một chiếc phao cứ lạnh lùng tuột khỏi tay Chí.

Dân làng thực ra đã tạo nên một sức mạnh hậu thuẫn cho hắn trong những lần đòi nợ Bá Kiến: "vả lại những người đứng xem đã về cả rồi, hắn thấy hắn hình như trơ trọi. Cái sợ cố hữu trong lòng thức dậy, cái sợ xa xôi thủa ngày xưa...(tr.27)ï. Con quỷ dữ của làng Vũ Đại đã phải lấy sức mạnh từ bên ngoài và từ sự mê hoặc của rượu.

Chửi là một hình thức gây hấn với người khác hoặc là một phương thức trả thù của kẻ yếu. Với Chí Phèo, chửi là để mong có được sự hồi đáp từ phía cái cộng đồng mà hắn đã không còn có thể trò chuyện được nữa. Hắn chửi vì hắn sợ phải im lặng và sợ sự im lặng của người khác. Giá hắn biết hát thì có lẽ hắn không cần chửi (tr.38). Hắn hẳn đã hy vọng rằng bằng cách đó không cho phép người khác lảng tránh mình.

Tuy vậy những phương thức giao tiếp ấy đã bị lạm dụng đến mức chúng trở nên vô nghĩa đối với dân làng Vũ Đại. Người ta không còn quan tâm đến những nỗ lực tuyệt vọng của Chí nữa. Bản thân hắn cũng không ý thức được tính chất tuyệt vọng trong những hành động của mình, cho đến cái buổi chiều được Nam Cao chọn làm điểm khởi đầu cho câu chuyện. Hắn đã thất bại hoàn toàn với "ângón" chửi. Quan trọng hơn, hắn cảm nhận được sự thất bại ấy. Với hắn đó là một mối thù lớn. Mối thù bị loại bỏ. Và tất cả những ai không đếm xỉa đến hắn đều là kẻ thù của hắn, đều phải chịu trách nhiệm về sự cô độc của hắn, nghĩa là tất cả mọi người. Do vậy mà hắn phải "âbáo thù vào bất cứ ai. Hắn phải vào nhà nào mới được, bất cứ nhà nào. Hắn sẽ rẽ vào bất cứ ngõ nào hắn gặp để đập phá đốt nhà hay lăn ra kêu làng nước. Phải đấy, hắn sẽ rẽ vào bất cứ cái ngõ nào hắn gặp...(tr.38)". Hắn không cần biết một nhà nào hay một người nào cụ thể. Những hành động "âtrả thù" mà hắn toan tính thực ra đều nhằm mục đích gây chú ý cho mọi người. Thế nên khi nhìn thấy cái bóng1 quần quật dưới chân mình, khi thấy mình không còn quá lẻ loi nữa, hắn đã lập tức quên ý định báo thù, bù vào đó, hắn đã có một "cuộc nhậu đẹp" với kẻ "tri kỷ" Tự Lãng, một kẻ cũng đơn độc gần bằng hắn. Vì thế, khi Tự Lãng đã say bò ra và hỏi: "người ta đứng lên bằng cái gì?" thì Chí Phèo vần ngửa lão ra, để mặc lão thế rồi lảo đảo ra về. Những kẻ như lão chỉ có thể đứng lên với sự nâng đỡ của người khác. Mà Chí thì không thể nâng lão đứng dậy được vì chính hắn còn thảm hại hơn lão, hắn cũng đang cần một người giúp đỡ. Người đó là Thị Nở. "Nhưng hắn đứng lên làm sao được. Thị quàng tay vào nách hắn, đỡ cho hắn gượng ngồi. Rồi thị kéo hắn đứng lên. Hắn đu vào cổ thị, hai người lảo đảo đi về lều" (tr.45)". Chí Phèo đã đứng lên như vậy. Rồi tiếp theo đó, hắn tỉnh.

Nỗi sợ cô đơn được Chí nhận thức một cách đầy đủ sau khi tỉnh. "Tỉnh dậy hắn thấy hắn già mà vẫn còn cô độc. Buồn thay cho đời! (...) Chí Phèo hình như đã trông thấy trước tuổi già của hắn, đói rét và ốm đau, và cô độc, cái này còn đáng sợ hơn đói rét và ốm đau"ï(tr.46). Có thể hiểu buổi chiều và buổi tối hôm Chí gặp Thị Nở (một cái mốc quan trọng trong đời Chí, điều này không cần phải bàn cãi nữa!) là sự kết thúc cho giai đoạn quỷ dữ. Và buổi sáng hôm sau chính là điểm khởi đầu của một giai đoạn mới- giai đoạn làm người. Biểu hiện đầu tiên của tính người trong Chí, đấy là nỗi buồn và cảm giác cô độc. Nỗi buồn giúp hắn cảm nhận cuộc sống trong sự mới mẻ, hấp dẫn và gợi lại mơ ước xa xưa về một mái ấm bé nhỏ. Cảm giác cô độc cho hắn hình dung trước những bất trắc đang chờ đón khi hắn đã ở cái dốc bên kia của đời. Và hắn sợ.

Người nông dân Việt Nam ít có mặc cảm cô đơn, vì họ gắn bó khăng khít với họ hàng, tông tộc, bà con, xóm giềng, đất nước, những cộng đồng lớn nhỏ xung quanh họ. Người Việt rất chú trọng đến sức mạnh của tình đoàn kết, tinh thần đùm bọc cưu mang lẫn nhau. Họ không thích sự nổi trội đặc biệt của một cá nhân nào đó, vượt hơn hẳn so với những người còn lại ( trừ phi cá nhân đó có một tầm vóc lớn hơn hẳn hoặc đã được thánh hoá). "Xấu đều còn hơn tốt lõi"ï. Họ muốn hoà lẫn vào người khác. Hạnh phúc của họ chính là một cuộc sống ổn định hoà hợp với mọi người xung quanh. Bát cháo hành của Thị Nở đối với Chí vô cùng thơm ngon vì nó giúp hắn cảm nhận một cách sâu sắc hương vị của sự chia sẻ, giúp hắn hiểu thế nào là được người khác cho, được quan tâm chăm sóc. "Bởi vì lần thứ nhất hắn được một người đàn bà cho" (tr.47). Cho chính là biểu hiện cao nhất của sự san sẻ, đùm bọc, điều mà Chí rất cần và rất thiếu.

Bát cháo hành Thị Nở trong cảm nhận của Chí không chỉ được xem như bằng chứng của tình yêu mà còn là dấu hiệu của tình làng nghĩa xóm. Chí không dừng lại ở mơ ước về một gia đình êm ấm với Thị Nở. Hắn còn mơ đến việc tìm được bạn, tìm được một chỗ trong cộng đồng. "Vì thế mà bát cháo hành của Thị Nở làm hắn suy nghĩ nhiều. Hắn có thể tìm bạn được, sao lại gây kẻ thù? (tr.48). "Trời ơi, hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hoà với mọi người biết bao! Thị Nở sẽ mở đường cho hắn. Thị có thể sống yên ổn với hắn thì sao mọi người lại không thể được. Họ sẽ nhận lại hắn vào cái xã hội bằng phẳng lương thiện của những người lương thiện... (tr.49)".

Chí không mong điều gì khác ngoài sự hoà hợp với mọi người. Hắn đã nghĩ một cách đơn giản rằng Thị Nở có thể giúp hắn bước vào thế giới lương thiện. Chỉ khi được mọi người chấp nhận, Chí mới thực sự cảm thấy là một người lương thiện đúng nghĩa.

2....đến cái chết như một cô đơn tuyệt đối.


Thực ra, cuộc đời Chí Phèo có thể kết thúc theo ba hướng: hoặc tiếp tục sống làm con quỷ làng Vũ Đại, hoặc bảo vệ con người mới của mình bằng cách bỏ làng ra đi tìm đến một vùng đất mới, hoặc là chết để làm ma của làng, nhưng là một con ma lương thiện. Nam Cao đã chọn cách thứ ba, vì tất yếu Chí phải hành động như thế.

Thị Nở và bát cháo hành đã biến bản năng muốn gia nhập cộng đồng của Chí (tiềm ẩn trong các hành động chửi, la làng, ăn vạ) thành một ý thức đầy đủ và mãnh liệt. Sở dĩ Chí Phèo có thể tồn tại ở làng như vậy cho đến nửa đời người là vì lúc nào hắn cũng say. "Chưa bao giờ hắn tỉnh để nhớ rằng có hắn ở đời". Và khi hắn tỉnh, khi hắn biết rằng có hắn ở đời thì cũng liền ngay đó hắn hiểu rằng đời không thể có hắn được. Nhưng hắn cũng không còn có thể say lại để quên đi tất cả, để không biết gì như trước đây nữa. Trong tất cả những thứ mà lần đầu tiên Chí được hưởng thụ vào năm ngày cuối cùng của đời mình, chỉ duy nhất hơi cháo hành là thứ hắn cảm nhận được, là thứ ám ảnh hắn lúc tuyệt vọng, lúc mọi thứ tuột khỏi tay hắn. Hơi cháo hành như mùi vị của hạnh phúc thoáng qua giờ đã trở nên không có thực, và vĩnh viễn không bao giờ có thực nữa. Đó là một chút tình mong manh nhưng dai dẳng không thể dứt bỏ nổi. Hắn không thể sống, dù ở làng Vũ Đại hay ở nơi khác, mà thiếu nó được. "Hắn cứ thoang thoảng thấy hơi cháo hành. Hắn ôm mặt khóc rưng rức" (tr.52). Vì hơi cháo hành mà lần đầu tiên trong đời hắn khóc, tiếng khóc của một con người nuối tiếc cái hạnh phúc không phải để cho mình nhưng lẽ ra mình có thể được hưởng. Tiếng chửi cuối cùng của Chí không còn là một thứ phương tiện giao tiếp nữa. Đó là tiếng lảm nhảm tuyệt vọng của kẻ đã nhìn thấy trước tương lai duy nhất dành cho mình: Cái Chết.

Ai là kẻ phải chịu trách nhiệm về cái chết của Chí? Bá Kiến, đại diện cho bọn cường hào ác bá, thế lực bức hại người lao động? Bà cô Thị Nở, đại diện cho cái xã hội của những người lương thiện với định kiến hẹp hòi? Hay chính Chí Phèo với sự yếu đuối của một nhân cách quá lệ thuộc vào cộng đồng?

Đương nhiên Bá Kiến là kẻ trực tiếp đẩy Chí sa ngã. Và Chí đáng lẽ phải thù oán Bá Kiến, lại khiến cho dân làng Vũ Đại oán thù và tẩy chay đến không còn cơ hội để quay trở lại với họ nữa.

Trong thế giới của Nam Cao, Chí Phèo không phải là kẻ duy nhất sống ngoài lề xã hội. Chí có những người anh em cùng chung cảnh ngộ bị cô lập, như Đức trong Nửa Đêm, Lang Rận trong truyện ngắn cùng tên, có thể kể thêm Cu Lộ trong Tư Cách Mõ... ở một môi trường mà thái độ của những người khác góp phần tạo nên nhân cách phẩm giá của một người, thậm chí có thể quyết định chuyện sống chết của người đó thì phản ứng của Chí Phèo cũng không khó giải thích. Trong Nửa Đêm, sau khi cho độc giả chứng kiến cảnh một đứa bé vô tội bị tẩy chay vì những tội lỗi của bố nó, Nam Cao đã viết: "Thì ra những người rất hiền lành cũng có thể là những người rất ác. Có điều họ không có cách để làm ác". (Tuyển Tập Nam Cao, sđd, tập 1, tr.73). Thực ra họ cũng có cách để làm ác, khi họ không chấp nhận sự vô tội của một người vô tội, không thừa nhận sự phục thiện của một người muốn phục thiện, không chấp nhận hạnh phúc của người khác. Nam Cao có xây dựng một loại nhân vật không muốn cho người khác được sung sướng (ông có hẳn truyện Nhìn Người Ta Sung Sướng kể về một bà già rất khó chịu mỗi khi vợ chồng con gái mình có những biểu hiện hạnh phúc, và bà nhất định sẽ bắt cô cháu dâu tương lai hầu mình đủ mười bốn năm mới thôi, quyết không cho cô ấy sung sướng ngay với cháu trai mình). Bà cô Thị Nở cũng thuộc loại này. Bà phản đối cuộc hôn nhân của cháu gái trước hết vì bà nhục cho ông cha bà, sau đó là vì bà tủi cho thân bà, uất ức cho cái đời không chồng của bà. Bà đố kỵ ngay với đứa cháu bất hạnh. Bà không có hạnh phúc, vậy thì cháu gái bà cũng đừng hòng mong điều đó.

Nam Cao không ngại phơi bày những hủ tục, những thói tật kìm hãm sự phát triển của con người, ngăn cản con người sống hạnh phúc. Những day dứt của ông được phát biểu qua lời của nhân vật Thứ trong tiểu thuyết Sống Mòn: "Đó là tại thói quen. Không phải cái thói quen của riêng mình, nhưng là cái thói quen lưu truyền đã mấy đời, đến nỗi nó nhập vào máu chúng ta. Tư tưởng, tính tình, cảm giác, hành động của chúng ta đều khuôn theo những thói tục. Những lề lối sẵn trong thời đại chúng ta. Thời thế thay đổi, lòng người đổi. Thế kỷ sau sẽ lọc máu cho chúng ta trong trẻo lại. Y thở dài nghĩ bụng nhưng tại sao ta lại không thể nghĩ chuyện lọc máu ngay từ bây giờ" *1.

Tham vọng của Nam Cao là muốn lọc máu cho cả dân tộc. Nam Cao đã khám phá ra những gì mà mỗi chúng ta không muốn để lộ ra. Ông giúp con người tự nhìn vào tận sâu trong tâm hồn mình để hiểu mình một cách thấu đáo hơn và có đủ can đảm để thay máu. Chỉ cần như thế, ông đã hoàn thành xuất sắc cái sứ mệnh nhà văn mà ông đã từng nêu ra đây đó trong các tác phẩm của mình.

Dấu hiệu hiện đại của tác phẩm Nam Cao biểu hiện ở ranh giới thiện ác giờ đây không còn quá rành mạch nữa. Những người lương thiện ở làng Vũ Đại sẽ tự đánh giá về mình ra sao khi chính họ là nguyên nhân dẫn đến cái chết của một con người. Điều bi đát là bản thân họ không thể ý thức được, không thể hình dung nổi điều đó.

Không ai được chứng kiến cuộc đối thoại giữa Chí Phèo và Bá Kiến, lúc Chí Phèo bộc lộ sự kiêu hãnh của một con người đã tự lấy lại phẩm giá. Cuộc đối thoại đó là cuộc đối thoại có giá trị nhất trong đời Chí, là điều mà ắt hẳn Chí muốn được mọi người biết đến. Không phải ngẫu nhiên mà Nam Cao đã để cho cả nhà Bá Kiến hôm đó đi vắng, chỉ mình cụ Bá ở nhà. Cuộc đối thoại đòi quyền làm người, trong thực tế, đã chìm lỉm vào hư vô. Và hắn la làng, cách giao tiếp quen thuộc của hắn, nhưng bi đát thay, cũng như xưa nay, khi hắn kêu làng, không bao giờ người ta vội đến. Vì vậy, lúc dân làng có mặt thì tất cả đã kết thúc. Họ chỉ thấy sự việc mà không bao giờ biết được nguyên nhân đích thực của nó. Chí Phèo hiểu rằng dù hắn có tu tỉnh thì cái quá khứ của hắn cũng không cho phép hắn trở thành người lương thiện giữa mọi người, hắn sẽ không được họ chấp nhận. Hắn muốn dùng cái chết của mình để chiêu tuyết cho đoạn đời tội lỗi trước kia và rung một tiếng chuông cảnh tỉnh cho sự khắt khe của dư luận. Nhưng ước vọng của Chí đã theo hắn và Bá Kiến xuống mồ. Đó là một bí mật trọn vẹn đối với người dân làng Vũ Đại. Tội nghiệp Chí Phèo, "mồm hắn ngáp ngáp, muốn nói nhưng không ra tiếng". Những điều mà Chí muốn nói với dân làng, với cái xã hội của những người lương thiện không bao giờ còn được nói ra nữa. Họ không bao giờ biết đến cái mong ước làm người lương thiện của Chí. Họ cũng không bao giờ biết được rằng chính họ có thể cho Chí một cơ hội, rằng chính họ đã có thể cứu vớt một linh hồn, rằng chính họ đã phê duyệt vào cái án tử hình của Chí.

Bi kịch của Chí ở đây là bi kịch của một giá trị không được biết đến, không được thừa nhận, không được thấu hiểu. Chí đã chết một cái chết vô ích. Cái chết đó thực sự vô nghĩa khi người ta xếp Chí cùng hàng với Bá Kiến "Thằng nào chứ hai thằng ấy chết thì không ai tiếc! Rõ thật bọn chúng nó giết nhau"(tr.54). Câu chuyện không kết thúc bằng cái chết của Chí mà kết thúc bằng sự đánh giá của cộng đồng về cái chết ấy. Chính với cách kết thúc như vậy, Nam Cao đã đẩy Chí tới tận cùng nỗi bất hạnh. Trong những lời bàn tán của người dân làng Vũ Đại người ta nhắc đến Bá Kiến nhiều hơn là Chí Phèo. Và sự đánh giá mà người đời dành cho Chí hoàn toàn ngược với cái mong muốn mà vì nó hắn đã phải trả giá bằng cả tính mệnh (Chí Phèo hẳn cũng muốn để lại tiếng thơm!). Thay vì thấu hiểu và chia sẻ, người ta đã vui mừng, thoả mãn. Những giông bão trong tâm hồn Chí thực sự chẳng để lại một dấu vết nào trên cái làng êm ả đó. Thậm chí cả Thị Nở là người duy nhất có thể cảm thông và thấy được bản tính hiền lành của Chí "Sao có lúc nó hiền như đất" (tr.54), cũng không hiểu được khát vọng làm người trong hắn. Chí Phèo không có Chúa làm kẻ chứng nhân vô hình cho sự thức tỉnh linh hồn. Chí Phèo là một cô độc tuyệt đối, điều mà hắn sợ nhất trên đời. Vào thế kỷ XVI, lúc mà ở phương Tây, con người cá nhân đang trên đường hình thành, Montaigne có nói: "Điều lớn nhất trên thế giới, đó là biết thuộc về chính mình (...). Không nên trao mình cho người khác mà chỉ trao mình cho chính mình mà thôi". (Essais, 1580. Trích theo Lịch Sử Cá Nhân Luận, Alain Laurent, NXB Thế giới, 2001, tr.39-40). Chí Phèo, bằng cái chết, đã trao mình cho người khác, mà tiếc thay, đã không được đón nhận.

Trở lại với cuộc đối thoại giữa Chí và Bá Kiến, cần lưu ý rằng Chí Phèo chỉ có thể dõng dạc tuyên bố: "Tao muốn làm người lương thiện!". Hắn không thể kiêu ngạo mà thông báo rằng: "Ta đã là người lương thiện", mặc dù trong thực tế đúng là như vậy, hắn đã hoàn toàn thay đổi trong những ngày sống chung với Thị Nở. Hắn không đủ tự do để tự biến mình thành người lương thiện và tự hào về hành động của mình, và cũng không đủ mạnh để dám trả giá cho việc làm người lương thiện. Hắn chết vì thấy rằng không ai cho hắn lương thiện. "Ai cho tao lương thiện?". Vậy ra sự lương thiện của hắn lại phụ thuộc vào người khác chứ không phải vào chính bản thân hắn!!!

Chí Phèo đã không thể hình dung rằng người ta vẫn có thể lương thiện mà không cần được cho phép, không cần được dung nạp. Chí đã không thể cứ lặng lẽ làm một người lương thiện ngoài lề xã hội. Chí Phèo chưa thể hiểu được bản thân giá trị của cá nhân Chí có thể đặt ngang cân với toàn bộ xã hội còn lại. Bị chi phối bởi ý thức cộng đồng, Chí tuyệt đối tin là nhân cách của mình phụ thuộc vào sự đánh giá của cộng đồng về mình, tin rằng thái độ che chở đùm bọc của người khác cấp cho hắn một thân phận và sự đánh giá của người khác cấp cho hắn một diện mạo1. Chí đã đồng nhất lương thiện với việc làm hoà với mọi người.

Chí Phèo không có được cái bản lĩnh của một người mang trong nó sức mạnh cá nhân và sức mạnh của một trình độ học vấn đủ để anh ta muốn khẳng định giá trị riêng của mình. Bản lĩnh của Chí Phèo là dám chết khi không còn có thể tiếp tục phạm tội nhưng lại không thể làm một thành viên của xã hội lương thiện. Bản lĩnh đó là chỗ mạnh nhưng đồng thời cũng là chỗ yếu đuối của Chí. Sự khinh bỉ của những người lương thiện đã giết chết Chí Phèo, đã giết chết Lang Rận, đã làm cho Đức phát điên. Nhân vật của Nam Cao chọn cái chết để tránh nỗi nhục nhã trước sự khinh bỉ của người khác và để tránh, điều này thật phi lý, việc mình trở thành nỗi nhục của người khác.

Hành động chết của Chí không phải là một hành động tự do theo cái nghĩa là Chí đã tự do quyết định số phận của mình. Cái chết ấy có thể xem như một nỗ lực cuối cùng để tìm cách hoà nhập cộng đồng. Sự hoán cải thực sự có thể biến Chí thành một người lương thiện nhưng chưa thể biến Chí thành một nhân cách tự chủ. Và, theo Nam Cao, không có một nhân cách tự chủ thì không thể sống mà làm người lương thiện được.

Nam Cao đau xót trước một thực tế: áp lực của dư luận xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến nhân cách của con người. Trong Tư Cách Mõ ông đã nói: "Hỡi ôi! Thì ra lòng khinh trọng của chúng ta có ảnh hưởng đến cái nhân cách của người khác nhiều lắm; nhiều người không biết gì là tự trọng, chỉ vì không được ai trọng cả; làm nhục người là một cách rất diệu để người sinh đê tiện..."(Tuyển Tập Nam Cao, sđd, tập 1, tr.203). Dư luận xã hội thường thiên kiến, tàn nhẫn, vô tình. Và một khi ý thức cá nhân còn chưa phát triển ở mức độ cao, thì ý thức cộng đồng còn có thể phát huy cái sức mạnh vô giới hạn của nó.

Chí Phèo cho ta thấy một cá nhân có thể bị nghiền nát dưới sức mạnh của ý thức cộng đồng như thế nào. Chí Phèo đã tuyệt vọng hướng tới một giá trị không thể gọi tên. Nếu ta đi tìm định nghĩa về sự lương thiện thì đây, câu trả lời của Chí: Lương thiện là được người khác chấp nhận. Đó không thể là chuẩn mực của một giá trị. Cái chết của Chí, do vậy, là một thất bại hơn là một chiến thắng của tính thiện, của khát vọng hoàn lương. Bằng sự thất bại của Chí (và cùng với Chí là sự thất bại của của Đức, Dì Hảo, của Nhu1, của Lang Rận2, cu Lộ...), Nam Cao muốn người nông dân Việt Nam có ý thức sâu sắc về những vấn đề của mình, và đối mặt với chúng để vượt qua chúng. Song, hơn nửa thế kỷ qua, niềm mong mỏi của ông đã được đáp ứng ở mức độ nào?

Chủ nghĩa hiện thực Nam Cao nếu có một chiều sâu thì đó là khả năng chạm tới đáy thẳm của ý thức cộng đồng. Chạm tới nó để cảnh báo về sự nguy hiểm, năng lực tàn phá, huỷ diệt, sự trì níu và làm tụt hậu của nó. Điều khiến người nghệ sĩ day dứt là phải vượt qua cái đáy thẳm đó để, trước khi đến được chân trời xa xôi của văn minh, ít nhất cũng đến được miệng vực, tức là mặt đất của sự công bằng, không thiên kiến, nơi cá nhân có vị trí độc lập với cộng đồng. Và nếu như thời hiện đại lấy con người cá nhân với cái tôi biết suy nghĩ làm cơ sở cho tất cả thì phải chăng, Nam Cao còn một điều day dứt nữa: Làm thế nào để xoá bỏ nỗi sợ cô đơn. Bởi vì con người cá nhân chỉ có thể phát triển khi người ta không còn quá khiếp sợ nỗi cô đơn để có ý thức về tự do của mình.

Nguyễn Thị Từ Huy


1 Những trích đoạn của Chí Phèo được lấy trong cuốn Tuyển Tập Nam Cao, tập1, NXB Văn Học,1997

1, 2 Nghệ Thuật Tiểu Thuyết, Milan Kundera, NXB Đà Nẵng, tr.18 và tr.115

1 Trong văn học, cái bóng thường được dùng như biểu tượng của sự cô đơn, kẻ đơn độc chỉ còn có cái bóng của mình là bạn, cho nên xem bóng như người tri kỷ để thổ lộ tâm tình: "Ngồi đây ta nói sự đời/ Ta ngồi ta nói, bóng ngồi bóng nghe" (Tản Đà- Nói Chuyện Với Bóng). Chí Phèo đương nhiên không xem bóng là kẻ tri âm hoặc kẻ song trùng hay bản chất thứ hai của mình (quá cao siêu đối với Chí). Chí nhìn thấy ở nó một nhân dạng, một hình bóng của con người, dù méo mó, xệch xạc, thu gọn rồi lại dài loang ra. Một nhân ảnh tơi tả, kì dị cũng đủ xoa dịu nỗi hận bị bỏ rơi của Chí.

1 Tuyển Tập Nam Cao, sđd , tập 2, NXB Văn học, 1997, tr.231.

1 Điều băn khoăn được nói ra trong những lời cuối cùng của Chí: "Làm thế nào cho mất những mảnh chai trên mặt này?". Đây không phải vấn đề hình thức bên ngoài quan trọng hơn đời sống nội tâm. Cũng không phải nỗi lo rằng cái bề ngoài là thứ dễ nhận biết còn nội tâm thì khó hoặc không thể nắm bắt. Đây là sự đồng nhất hình thức bên ngoài với các giá trị của nhân cách, là quan niệm cho rằng hình thức phản ánh bản chất bên trong của con người. Những vết mảnh chai trên mặt Chí gắn với một quá khứ không thể nào thay đổi được nữa. Quá khứ đó huỷ hoại hiện tại và giết chết tương lai của Chí, chỉ vì nó không bị xoá bỏ trong ý thức của cộng đồng bao quanh Chí.

1, 2 Nết hiền lành đến mức đần độn của Nhu (hay của dì Hảo) được Nam Cao trình bày như một giá trị đã hoàn toàn bị phá sản trong cuộc sống hiện tại. Nam Cao lên án chính cái đức ở hiền thụ động ấy chứ không bảo vệ nó để chống lại sự sắc sảo một cách hiệu quả của cô em, Nhượng. Nếu như trong Chí Phèo còn thể đổ lỗi cho Bá Kiến, bà cô Thị Nở, thì trong ở hiền, Nhu phải chịu trách nhiệm về bất hạnh của chính mình. Và cũng khó mà nói được rằng qua vụ thắt cổ tự tử của Lang Rận, Nam Cao muốn đề cao chữ "tiết" và đức trọng danh dự của người nông dân. Cùng lắm ta chỉ thấy ở đó một nạn nhân, một cái chết vô lý mà nguyên nhân là sự độc ác của dư luận và sự hèn yếu của người đàn ông không đủ bản lĩnh để chịu trách nhiệm về việc mình đã làm, một việc không phải là tội lỗi gì ghê gớm mà nhìn ở một góc độ khác, đó còn là một trong những quyền cơ bản của con người: quyền được yêu (Lang Rận và Mụ Lợi đều là những người không bị hôn nhân ràng buộc). Lang Rận chết không vì bảo vệ một danh dự hãõo huyền mà vì không thể đối mặt với sự khinh bỉ của những kẻ không là mẫu mực của đạo đức mà lại tự cho mình cái quyền xâm phạm vào tự do của người khác. Nam Cao nhận thấy bi kịch của con người không sống cho chính mình mà sống cho hình ảnh của mình trong mắt người khác; người ta tự bóp nghẹt mình, tự gò mình theo một khuôn mẫu chung và dẫn tới hậu quả là tự thủ tiêu mình. Sự lặp đi lặp lại của chủ đề này trong nhiều tác phẩm của Nam Cao chứng tỏ ông xem nó là một vấn đề lớn, có nghĩa là, theo ông, dân tộc muốn phát triển không thể không giải quyết nó bằng một quá trình mà ông gọi là "lọc máu".

Chủ Nhật, 24 tháng 6, 2007

Phái Yếu Mạnh Quá!




Đó phải chăng là một lời khen, hay như tiếng than, câu cảnh báo, phản ánh những mâu thuẫn nội tại ở người phụ nữ thời nay?

Khen. Cách đây khoảng nửa thế kỷ trở về trước, người phụ nữ Việt Nam khi bước lên "xe hoa" là như được hóa thành một kẻ khác. Nếu ở bên Tây, chị em chỉ bị "mất" họ thôi, còn ở ta thì "mất" cả tên. "Mất" họ nghĩa là lấy họ theo dòng họ nhà chồng. Còn "mất" tên là được dùng chung tên chồng.

Thí dụ: cô Lúa lấy anh Ngô thì nay cô được gọi là chị Ngô, rồi bà Ngô - cái chỉ dấu cho thiên hạ biết cô như vật sở hữu của anh Ngô rồi. Cả làng nhà chồng chả bao giờ biết cô Lúa là ai cả. Đó vừa như cái "đòn phủ đầu" để các ông chồng "dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về", nhưng cũng như một biểu hiện cho sự lệ thuộc vào đàn ông ở người phụ nữ nước ta nó ghê gớm thế nào. Và tất cả cuộc sống của họ sau đó đã minh họa cho điều này. Vừa như "cái máy đẻ", nhưng vẫn phải lo nhà cửa bếp núc đủ thứ, việc đồng áng cũng không khác mấy đàn ông. Khi cha mẹ chết thì phải gào khóc rõ to vào, "lăn đường" [1] từ nhà ra mộ... để chứng tỏ cái đạo hiếu, không thì thiên hạ chê cười. Giỗ chạc thì chỉ được ăn dưới bếp, khá hơn tí thì ngồi nhà trên nhưng cũng chỉ "chiếu dưới" thôi. Còn cảnh thê-thiếp nữa, tức là chấp nhận làm vợ lẽ, hoặc chồng lấy thêm vợ hai, vợ ba... Vài ví dụ vậy, chứ còn vô vàn dẫn chứng, và tuỳ từng dân tộc, địa phương, vùng miền mỗi nơi mỗi vẻ.

Thế rồi có cách mạng, độc lập, chế độ XHCN ập đến. Xã hội thay đổi một thì chị em đổi đời mười. Những tập tục nói ở trên biến đi rất nhanh cùng cả nhiều phong tục tập quán đẹp đẽ. Và cải cách ruộng đất, được chia ruộng, được đi đấu tố địa chủ cường hào (răng đen váy đụp lại dám chỉ mặt dí đầu phú ông, quan xã mà mắng chửi té tát - chuyện cả 4000 năm lịch sử chưa bao giờ có được). Kíp đến là vào hợp tác xã, chuyện công điểm [2] , họp hành, cương vị... chị em đều được tham gia ngang với cánh mày râu. Lại còn nhiều đoàn thể nữa, nhất là có Hội Phụ nữ, luôn bảo vệ quyền lợi cho chị em để được bằng vai phải lứa với đàn ông. Thậm chí có những điều còn mới ở... "thì tương lai" thôi, nhưng đã có khẩu hiệu, sách báo, văn bản tuyên truyền cực mạnh nên chị em vẫn một lòng phơi phới tưởng như nó đang diễn ra. Không thể kể hết những thay đổi về tinh thần, cho cảm giác mạnh mẽ, tự tin, như bước chân thứ nhất giúp phụ nữ tiến lên sánh ngang nam giới - kẻ mà họ nghĩ là đã cướp mất của mình những quyền chưa hề có từ khai thiên lập địa đến giờ.

Tiếp đến là một cuộc "cách mạng thứ hai" góp phần giúp phái yếu bước cái chân thứ hai lên đỉnh cao sức mạnh. Đó là vật chất, có được nhờ nền "kinh tế thị trường". Không còn cảnh "cá mè một lứa" với những anh chàng bất tài, lười biếng nhưng vẫn cứ được hưởng lương đều nhau như ở chế độ "bao cấp" nữa, giờ chị em có thể làm bà chủ thuê mướn hàng nghìn kẻ "mạnh". Đơn giản vì ngót hai chục năm nay có kinh tế tư bản tư nhân, hàng hóa sản xuất, thu nhập của mọi người theo thị trường quyết định, không còn theo cái lối Nhà nước áp đặt, phân phối qua tem phiếu, bán rẻ nhưng không có mà mua, và lương lại cũng quá "rẻ" nữa. Mà chị em giờ được ăn học, có nhiều quyền hành ngang đàn ông, lại thêm biết tận dụng cái ưu ái với "phái đẹp", cái ưu tiên cho "phái yếu", thì đương nhiên khả năng làm kinh tế dễ ăn đứt đàn ông rồi. Đến như ở nông thôn, nghề làm lúa giảm dần, nhường chỗ cho nghề phụ, chăn nuôi, hoa màu... là những việc phụ nữ có thế mạnh (ít đòi hỏi sức vóc, cần nhiều tính bền bỉ, khéo léo). Những chị em lên thành phố làm công nhân cũng vậy, giờ đâu còn cảnh quai búa, thổi bễ như xưa, mà toàn là việc tinh xảo cần mềm mại uyển chuyển lắp ráp, đo chỉnh... Thế là các anh vai u thịt bắp chỉ có mà "xách dép" cho chị em thôi. Trong khi đó, những thay đổi về tinh thần của các chị vẫn mạnh thêm, nhưng thực hơn, thiên về phát triển cá nhân, bớt phải dựa dẫm vào tập thể như trước.

Mâu thuẫn. Thứ nhất là trong nội tại, ngay trong bản thân mỗi người phụ nữ sống trong xã hội mà nữ quyền được đề cao. Một mặt họ được (và phải) tỏ rõ là người "phụ nữ mới", tức là độc lập sống, suy nghĩ, nhưng mặt khác họ lại cảm thấy nếu vậy thì những thiên chức, bản tính phụ nữ trong họ mất đi nhiều, tỉ lệ nghịch với cái sức mạnh của mình. Họ thấy cuộc sống căng thẳng quá, lúc nào cũng như phải lên gân. Người xưa dạy "lạt mềm buộc chặt", thật là hợp với cái "vai" của phụ nữ thời nay, nhưng lại không dễ áp dụng chút nào. Nhiều chị em muốn "buộc chặt" nhưng lại bị "cứng" quá, không biết làm thế nào cho "mềm". Vậy là sinh đứt gãy, đổ vỡ. Lại có những chị em bẩm sinh rất có bản lĩnh, tài năng, thêm "thiên thời, địa lợi", nên thành đạt. Nhưng họ bị thiệt thòi là đàn ông nhìn vào chỉ có "kính" thôi, mà không dám... yêu (các anh bị chạm tự ái). Mặc dù nhiều khi rất cố phát triển những nữ tính khác như cười tươi, ăn nói nhỏ nhẹ, nhưng khổ nỗi là người ta cứ thấy tiện lấy... tiền làm thước đo mọi thứ. Thế là khó! Thứ hai là mâu thuẫn với lực lượng đang bị mất dần quyền lực - cánh mày râu. Các vị này từ chỗ nhận ra mình có vẻ bị coi thường, nên phát sinh vô vàn phương cách, cả có ý thức lẫn "vô thức", để níu kéo, giành lại nam quyền của mình. Nhẹ thì đá thúng đụng nia, "chiến tranh lạnh", nặng hơn thì "giận mất khôn", thượng cẳng chân hạ cẳng tay. Cao trào là các vị bắt đầu bí mật đi tìm những người đàn bà đích thực của mình mà họ cho là có "nữ tính", biết "trọng nhân tài" hơn. Thế là phái mạnh ngày càng yếu đi vì thêm cái tai tiếng giăng hoa, vũ phu (muốn chứng tỏ mình mạnh về... chân tay, chứ không phải cái đầu. Nên trong ly hôn, do bạo hành cũng chiếm đến 1/3 [3] ).

Phải nói là có rất nhiều khía cạnh sâu xa thuộc về lĩnh vực tâm sinh lý, xã hội mà đòi hỏi các nhà khoa học phải rất công phu và được mạnh dạn trao đổi thì mới có thể giúp giải bớt cái mối mâu thuẫn này. Cũng như để cho những Luật như Bình đẳng giới [4] , Phòng chống bạo hành trong gia đình... có tác dụng thực tế hơn, tránh những điều khoản chung chung mang tính động viên, tuyên truyền.

Than. Là về nỗi khổ của xã hội nói chung khi mà phái yếu lại có vẻ như mạnh quá. Bởi vì cái gì dù hay, dở, cũng có mặt trái của nó, nếu ta không nhìn trước ngó sau, lúc nào cũng phơi phới "tiềm tin chiến thắng" là rất dễ loá mắt mà vấp ngã.

Trước hết là khổ cho chính phái yếu. Như "cưỡi lưng hổ". Chị em được đánh giá là không thua kém gì đàn ông, được cho nhiều quyền hành quá mạnh (so với xưa), thế là đương nhiên phải chứng tỏ cái gì chứ, nếu không thì thành kẻ... "lạc hậu". Nhưng khốn nỗi là đâu có thể nhanh được, thói quen cả xã hội ăn vào máu hàng nghìn năm rồi, giờ mới có mấy chục năm, nó phải từ từ chứ. Đơn cử như: trong khi vẫn phải bận lo đẻ con này, phải cho con nó bú mớm nữa, mà kinh nhất là tháng nào cũng tự hành mình đến... đổ máu (hao tổn phải bằng mấy khủng bố bên I-rắk), thế thì làm sao rảnh tay để ra tranh giành lợi, quyền với các ông lộc ngộc được (các khoa học gia loay hoay mãi vẫn chưa nghĩ ra cách san bớt mấy cái khổ ải này cho cánh đàn ông). Vậy là gay rồi! Nên nhiều lúc chẳng việc nào làm được đến nơi đến chốn. Mà người trên "lưng hổ" rồi thì cứ phải ngậm tăm, cấm có dám kêu ca gì, làm cho người chưa được lên "cưỡi" vẫn thấy vừa tủi vừa ham.

Với phái mạnh, rất đơn giản, cái khổ là ở chỗ xưa nay các vị quen coi chị em như thuộc diện sở hữu của mình rồi, giờ thoắt cái lại thấy đã lên trên, không còn trong vòng tay. Vừa mất đi kẻ để sai khiến, mà đôi khi cần được vỗ về, săn sóc cũng khó quá. Thật khó chịu. Dần dà, nhiều anh sinh ra tự ti, tưởng mình kém cỏi. Ngược lại, có những anh phản ứng, đòi trở lại cái "thể chế" cũ. Có anh lại kiểu lúng... túng làm liều, kiếm tiền bất chấp nguy hiểm để thể hiện "bản lĩnh đàn ông". Thế là đời vào ngõ cụt thêm. Hoặc có những anh tuy kiếm tiền kém nhưng cái chữ nghĩa nó lại khá, một yếu tố vô cùng quan trọng dài lâu cho xã hội và gia đình, nhưng vẫn bị vợ coi là diện vô tích sự (vì cái thứ chữ nghĩa thời nay vẫn bị coi là rất rẻ, chưa kể nó còn phải chịu thêm đủ thứ bầm dập của bao nhiêu cuộc bể dâu nữa). Những anh này còn nhìn được nhiều điều sâu xa hơn, ví như: chị em hơi bị giống cái xe máy còm mà lại phải dấn hết ga hết số cho nhanh, rất nguy hiểm. Nhưng oái oăm thay, nhiều chữ mà ít tiền, quyền, mấy ai tin vào lời anh nói? Từ đó, những điều anh ta đem ra dạy con trẻ cũng "mất thiêng" đi, "trụ cột" lung lay, con cái hư hỏng, trật tự gia đình rối tung cả.

Cũng từ đây, một điều đáng lo hơn khi người đang "mạnh" lên và kẻ bị "yếu" đi cùng bị cuốn vào cuộc ganh đua thì người già và con trẻ dễ bị bỏ rơi. Người già khó thích ứng kịp với cảnh ngày càng cô độc và kém được tôn trọng (con dâu "phê bình" bố chồng xơi xơi chẳng hạn). Con trẻ thì dễ bơ vơ, bị phó mặc cho những môi trường thậm chí mong manh hơn - nhà trường, xã hội. Một khi gia đình tan vỡ, họ mới là những người phải gánh chịu hậu quả nặng nề mà sức chịu đựng lại rất kém.

Cảnh báo. Có vẻ như thế giới này đang thay đổi rất nhanh cái "cán cân quyền lực" giữa nam và nữ. Tựa câu nói "âm thịnh dương suy". Cái thay đổi đó có vẻ đi liền với xã hội công nghiệp và tiêu thụ. Nước ta chưa có cuộc điều tra xã hội học, nhưng ở Mỹ đã tính được, hiện có tới trên 50% phụ nữ ở tuổi lập gia đình nhưng đang sống độc thân (gồm người chưa có và người đã có gia đình nhưng tan vỡ). Vậy đương nhiên số đàn ông độc thân, dù không lớn bằng, nhưng cũng rất cao. Một thế giới đang ít đi rất nhanh những gia đình theo đúng nghĩa truyền thống, nhiều hơn những đứa con không cha, không mẹ. Mà một nguyên nhân quan trọng là từ những người phụ nữ có khả năng, thích, hoặc buộc phải sống độc lập, trong khi những người đàn ông đang phải cố quen dần việc bớt đi quá nhanh cái tâm lý cố hữu rằng mình là trụ cột gia đình. Những thiên chức của người phụ nữ rồi sẽ được chuyển dần sang cho đàn ông, cho máy móc và dịch vụ, họ sẽ được rảnh tay để thể hiện sức mạnh từ cái tưởng là yếu của mình.

Vậy phải chăng rồi sẽ trở lại một thời kỳ dần dần có nhiều hơn những gia đình đầy đủ vợ chồng con cái, có điều ở đó, người vợ mới là trụ cột của gia đình - hình thành nên một xã hội "mẫu hệ"? Mà kỷ nguyên này đang như một bước chuyển tiếp dữ dội, với hệ quả là gia đình - hạt nhân chính của xã hội - chỉ trong ngót một trăm năm thôi đã khác hẳn với nó suốt hàng nghìn năm trước (đảo lộn, kém bền chặt, tan vỡ... một trong những tác nhân chính cho những hệ lụy tha hóa đạo đức xã hội). Người phụ nữ đang mang cảm giác được giải phóng mạnh mẽ chưa từng có, từ cả hai mô hình xã hội - cộng sản và tư bản (khác hẳn phong kiến) - một cho họ viễn cảnh huy hoàng xa xăm, một bằng hấp lực hào nhoáng thực tại. Cảm giác đó có lẽ đã lấn át mối lo lớn, rằng họ đang phải đối mặt với một bài toán chọn lựa nan giải cho chính mình: đó là sự dung hòa giữa địa vị và trách nhiệm, gia đình và xã hội.

Nguyễn Hữu Vinh

[1] Tức là di chuyển bằng cách lăn trên đường như con lăn.
[2] Tựa như mức lương.
[3] Trong số 7372 vụ ly hôn/8 năm tại Hà Nội (Lao động Online 31-12-2006)
[4] 12-12-2006.

Moulin Rouge PARIS





Khi nói đến Paris, không thể không nói đến những hộp đêm sang trọng nổi tiếng như: Lido, Crazy Horse, Moulin Rouge. Ba hộp đêm này có những sắc thái khác biệt nhau, khác biệt về lối trình diễn những màn vũ, cũng như trang cách trang trí sân khấu .v.v.

Hộp đêm Lido đã có từ 60 năm nay, đây là biểu tượng sự sang trọng và lịch sự, với đoàn vũ 60 nam và 42 nữ vũ công. Tiêu chuẩn chiều cao các vũ công, nam 1,83m, nữ 1,75m. Người ta đếm nơi đây có 600 bộ áo quần lộng lẫy. Ngoài 102 vũ công, trong hộp đêm Lido có thêm 400 nhân viên làm việc trong đó kể cả nhân viên về kỹ thuật sân cũng như người phụ trách áo quần cho vũ công thay đổi v.v. Lido chứa được 1.150 khách. Khách vào phải mặc áo vết và mang cà vạt, nếu khách quên, sẽ có nhân viên đưa cà vát cho mượn. Trước khi ra về, khách trả cà vạt lại cho nhân viên.

Hộp đêm Crazy Horse (được 56 tuổi) một biểu tượng cho sự gợi cảm một cách tinh vi và nghệ thuật với 20 nữ vũ công biểu diễn những màn vũ nghệ thuật gần như là khoả thân, và đặc biệt nhảy theo màu sắc của ánh đèn. Nơi đây sẽ cho bạn một bầu không khí giải trí 1giờ 35 phút, với những màn biểu diễn vũ điệu taboo, bạn cảm thấy bị thu hút từ màn đầu cho đến màn cuối. Hộp đêm Crazy Horse nằm trong khu Champs Elysées.

Hộp đêm Moulin Rouge (118 tuổi) tuy là một hộp đêm ca vũ nhạc, nhưng là biểu tượng một khiá cạnh về văn hoá của Paris. Nói đến Moulin Rouge người ta nghĩ ngay đến Paris về đêm. Trước mặt tiền của hộp đêm có một nhà máy xay lúa đặt trên nóc với cánh quạt gió, nhấp nháy đang quay bằng những ánh đèn néon đỏ, ngay trung tâm khu phố hợp thời trang. Những cảnh trang trí trên sân khấu Moulin Rouge huy hòang lộng lẫy ( nơi đây có 1000 bộ áo quần ). Vũ điệu sống động luôn luôn đổi mới, và những nữ vũ công xinh đẹp được mệnh danh là Doris Girl. Vũ điệu đặc biệt luôn luôn mở đầu chương trình là điệu vũ French Cancan (màn vũ biểu tượng của Moulin Rouge) với váy xòe nhiều lớp 3 màu (màu cờ Pháp), xanh, trắng, đỏ, (không bao giờ thay đổi). Những bài hát trình diễn nơi đây hết 80% là bài hát của Pháp, có khỏang hơn 100 nghệ sĩ trình diễn, trong đó có 60 nữ vũ công (luôn luôn 60 nữ vũ công) Đoàn vũ biểu diễn liên tục trong hai tiếng đồng hồ, với 9 lần thay đổi áo quần mới lạ làm cho khách đến chóa mắt, và cách trang điểm đều giống nhau, đôi khi khách có cảm tưởng họ là những cặp chị em sinh đôi.

Ngoài điệu vũ French Cancan có màn vũ then chốt là bồn cá lớn với các mỹ nhân ngư. Khách đến Moulin Rouge lúc nào cũng đầy ở mức độ 100/100. Hộp đêm này tiêu thụ rượu champagne với một số lượng trung bình 350.000 chai mỗi năm. Trong phòng chứa được 850 khách. Hộp đêm Moulin Rouge trình diễn mỗi đêm ba xuất, bắt đầu từ 6 giờ 30. Moulin Rouge cũng đã tiếp đón những nghệ sĩ nổi tiếng như : Frank Sinatra, Joséphine Baker, Jane Avril, Edith Piaf. Mới đây, Moulin Rouge đã được lồng vào phim với vai chính là Nicole Kidman.

Những cô gái trẻ đến từ khắp nơi với giấc mơ được tuyển vào đòan vũ công MouLin Rouge. Trước khi vào đây, phải qua một cuộc thi tuyển thật gắt gao. Mỗi lần tuyển, người ta chỉ nhận vài vũ công trên số khỏang 300 người. Lúc đầu, thí sinh được quyền mặc quần áo thun bó sát để nhảy biểu diễn qua cuộc thi khảo sát. Sau khi bị lọai ra khỏang 9/10. Số được tuyển còn lại, được yêu cầu nhảy với một string nhỏ xíu để giám khảo kiểm sóat cả thân hình, nhất là mông và ngực, tuyệt đối đôi chân và mông không được có vết thẹo hay vết nám. Chiều cao trung bình 1,75. Một số thí sinh trình độ nhảy múa giỏi, có thân hình đẹp, nhưng hơi ốm, hay hơi mập cũng bị loại. Thí sinh khi trúng tuyển, có nơi ăn chốn ở, và có số lương 2.500 euro mỗi tháng.

Người tuyển chọn thí sinh cho Moulin Rouge là cựu nữ vũ công gốc người Mỹ, nổi tiếng trong đoàn trước kia. Ngòai việc tuyển chọn thí sinh bà còn huấn luyện các màn vũ nữa. Những vũ công khi được thâu nhận làm việc ở đây, đối với họ là một điều may mắn, ngay cả khi thôi việc họ vẫn lấy làm hãnh diện. Mức độ làm việc ở đây gần như không ngừng với sự huấn luyện nghiêm khắc, và mỗi tuần chỉ được nghỉ một ngày, nên các vũ công không dễ có một cuộc sống gia đình được. Một số vũ công may mắn có chồng giàu sang thì nghỉ viêïc, một số vũ công khác thì muốn chuyển nghề. Nhưng muốn chuyển nghề cũng không phải dễ, một khi đã quen với ánh đèn màu, với những tràng pháo tay ngưỡng mộ. Chỉ có một số ít đã thành công trong việc chuyển nghề như: điêu khắc, kịch sĩ hay là giáo sư dạy vũ...

Điệu nhảy French Cancan
Vào năm 1850 một nữ vũ công chế ra một điệu nhảy mới với điệu giựt nhanh theo lọai nhạc Offenbach. Mười năm sau, lọai nhảy này biến thành French Cancan nhờ ông Charles Morton chế biến thêm: vũ công khi nhảy, thỉnh thoảng hất váy thật cao ở phía trước, rồi xoay người, đưa lưng về phiá khán giả, cúi rạp người, vén váy phiá sau thật cao, rồi quay người lại lần lượt đưa cao chân này đến chân kia, nhảy thật cao để buông mình rơi xuống sàn nhảy với hai chân dang rộng, chân trước với chân sau tạo thành một đường thẳng.

Những vũ công được mệnh danh Doris Girl.
Doris, một cô gái gốc người Đức, thủa nhỏ đã mơ đến chuyện nhảy múa, lén cha mẹ đi học vũ cổ điển. Sau khi tốt nghiệp, Doris ghi tên học thêm khóa huấn luyện viên về vũ. Ngoài việc học ở nhà trường, Doris viết báo để có thêm tiền trả lệ phí cho khoá học này. Sau khi có mảnh bằng huấn luyện viên trong tay, Doris nghĩ ngay đến Moulin Rouge tại Paris, và Doris đến Paris đã được nhận làm vũ công tại Moulin Rouge. Trong thời gian đầu, nhảy múa, bắp thịt đầu gối và khủyu tay của Doris không chịu nổi những vũ điệu giựt mạnh, nên Doris xin qua một hộp đêm khác. Hộp đêm này đã nhận Doris làm trưởng đòan vũ. Không bao lâu, Doris đã tạo nên một nhóm vũ công với những màn vũ độc đáo.

Trước những thành công của Doris, Moulin Rouge mời Doris trở về lại Moulin Rouge với tư cách huấn luyện viên đoàn vũ. Thành công đến ngay với những màn vũ, nhất là điệu French Cancan đổi mới, do Doris tung ra vào năm 1961. Tiếng đồn vang dội khắp nơi, ngòai công việc phụ trách đoàn vũ ở Moulin Rouge, Doris được mời để huyấn luyện đoàn vũ tại Luân Đôn, Vienne, Tokyo. Người ta không thể ngờ Doris đã thành công hơn điều người ta tưởng. Cho đến bây giờ, các vũ công trong hộp đêm Moulin Rouge tiếp tục phát huy những tinh hoa của Doris truyền lại.

Tại sao Moulin Rouge?
Moulin Rouge có truyền thống lâu đời được ông Josseph Oller (chủ nhân của rạp Olympia ở Paris) xây vào ngày chủ nhật 6/10/1889, tại vùng ánh sáng đỏ Pigalle trên đại lộ Clichy thuộc quận 18 (gần khu Montmartre). Vào thủa xa xưa ở nước Pháp, mỗi vùng đều có một nhà máy xay lúa, với bốn cánh quạt gió lớn. Do đó, nhà máy xay lúa bằng gió là một hình ảnh quá quen thuộc đã đi vào tiềm thức của dân gian. Ông hoạ sĩ Lautrec đã có sáng kiến để cho mọi người dễ nhớ bằng cách dựng trên nóc của hộp đêm một nhá máy xay nhỏ để làm biểu tượng và cũng là tên của hộp đêm và Moulin Rouge để lại trong lòng khách một ấn tượng đẹp, có ý nghĩa, khó quên.

Bích Xuân
bichxuanparis@yahoo.com